ForMyGluco
BlogThuật ngữ← Về trang chủ

Thuốc và insulin

Dùng hằng ngày

5 bài

Hộp thuốc bảy ngăn nhiều màu trên nền vải kem; hàng trên đầy, hàng dưới gần như trống.Lỡ giờ uống thuốc thì sao?Một liều bị lỡ không mang cùng một nghĩa ở mọi thuốc, vì tác dụng kéo dài bao lâu thì đổi theo từng thuốc. Một viên có tác dụng dài và một thuốc tác dụng ngắn uống cùng bữa cũng không cho cùng một tương ứng. Thứ định đoạt là thuốc ở lại trong cơ thể bao lâu và đường cong mà tác dụng của nó vẽ ra. · 2 phútĐọc tiếp

Một thuốc không xong việc ngay lúc vào miệng. Cơ thể bẻ nó ra từ từ rồi đưa ra ngoài. Thước đo thô của tốc độ làm sạch ấy tên là thời gian bán thải. Một thuốc có thời gian dài, khi lỡ một liều, vẫn để lại chút ít trong máu và khoảng trống đi qua êm. Ở thuốc có thời gian ngắn thì mức tụt nhanh, và chỗ hở hiện ra sớm hơn. Vì vậy một sự chậm trễ dài như nhau lại sinh ra hai kết cục chẳng giống nhau chút nào ở hai thuốc khác nhau. Trong các nguồn, người ta có khi còn dùng chữ khoan dung cho những thuốc có thời gian dài.

Các thuốc uống cùng bữa thì làm việc theo một cái lý khác. Nhiệm vụ của chúng là đón đợt sóng glucose tới từ bữa ấy. Bữa qua đi thì đợt sóng ấy cũng qua. Vì không còn cái đích nào để thuốc đón nên phương trình đổi từ đầu. Do đó, ý nghĩa của một liều tới muộn không ra giống như ở một thuốc tác dụng dài.

Việc hai liều chồng lên nhau có một kết cục riêng của nó. Cửa sổ của hai tác dụng trùng vào cùng một khoảng và tổng tác dụng lớn lên. Ở các họ thuốc kích thích tuyến tụy và ở insulin, sự trùng ấy có thể kéo đường huyết xuống quá mức cần; và lúc nào tác dụng tắt cũng thành ra không rõ. Ở các thuốc có thời gian dài thì bức tranh khác. Các mô hình toán học ở đây tìm thấy một dao động nhỏ hơn nhiều. Hai tình huống không vừa vào cùng một câu.

Thời gian tác dụng của thuốcLỡ một liều thì đổi gì
Thời gian dài, xuống chậmLượng còn lại trong máu chở khoảng trống một lúc, cú tụt không đột ngột
Thời gian ngắn, xuống nhanhTác dụng hết nhanh, chỗ hở hiện ra sớm hơn
Uống gắn với bữa ănBữa đã qua thì gánh mà thuốc phải đón cũng qua
Insulin nền tiêm dưới daVì hình dáng phẳng nên khoảng trống trải ra, không dồn vào một khoảnh khắc

Những liều lỡ lẻ tẻ và một sự thất thường đã thành nếp cũng không phải một thứ. Một liều thỉnh thoảng lỡ thì không đủ sức tự nó định ra bức tranh dài hạn trải trên nhiều tháng. Còn một sự trục trặc kéo dài hàng tuần thì để lại dấu trong giá trị trung bình ba tháng. Xóa cái dấu ấy cũng không dễ. Thấy được lằn ranh này sẽ làm nhẹ bớt cảm giác tội lỗi không cần thiết.

Bản thân việc quên cũng không ngẫu nhiên. Thói quen dựa vào những dấu hiệu lặp lại trong môi trường quanh ta. Khi chuông điện thoại để im thì dấu hiệu ấy biến mất và chuỗi thói quen đứt. Nếu các ngăn đã mở trên vỉ không nằm trước mắt thì cũng không còn dấu vết nào để nhìn lại. Khi nếp bữa ăn xê dịch thì dấu hiệu của thuốc uống cùng bữa cũng xê dịch theo. Dấu hiệu quay lại thì thói quen cũng chỉnh lại.

Từ đây hiểu được vì sao không có một câu trả lời chung cho mọi người về một liều bị lỡ. Thuốc nào chở được khoảng trống nào tới đâu thì tờ thông tin của chính thuốc ấy và ê kíp sắp xếp điều trị sẽ cho biết. Nói chuyện vào một ngày yên tĩnh thì dễ hơn nhiều so với việc cố quyết định trong khoảnh khắc cuống quýt lúc nhận ra chỗ hở. Buổi khám tới chính là chỗ hợp cho một cuộc nói chuyện như thế.

Bài này có trang riêngQuay lại thẻ

Hai đường ray tàu cắt nhau trên nền đất ướt, tạo thành một chữ X rõ ràng ngay chính giữa.Các thuốc có ảnh hưởng lẫn nhau không?Việc của một thuốc không chạy độc lập với những thuốc và thực phẩm bổ sung khác dùng trong cùng những ngày ấy. Tương tác làm việc theo hai chiều: một thuốc có thể đổi việc của thuốc tiểu đường, hoặc tự nó làm đường huyết xê dịch. Vì vậy khi một hộp mới vào danh sách thì cả danh sách trở nên quan trọng. · 3 phútĐọc tiếp

Tương tác có hai con đường. Chúng riêng nhau. Ở con đường thứ nhất, các thuốc xen vào việc làm sạch lẫn nhau khỏi cơ thể; hai chất dùng chung một enzyme của gan có thể kéo dài thời gian ở lại trong máu của nhau. Ở con đường thứ hai, chất ấy chạm thẳng vào đường huyết, và hoặc đỡ thêm cho hướng mà thuốc tiểu đường đang kéo, hoặc đạp ngược lại. Con đường này thuộc mối quan tâm của dược sĩ nhiều hơn, con đường kia thì hiện ra trong các phép đo hằng ngày.

Nhóm đẩy đường huyết lên có một thành viên nổi tiếng nhất. Đó là các thuốc dẫn xuất cortisone. Chúng dùng chung con đường với những nội tiết tố căng thẳng mà cơ thể tự tiết trong những ngày ốm; con đường ấy được một bài riêng mở ra từng bước. Độ lớn của tác dụng tỉ lệ với sức của thuốc và với thời gian dùng. Một đợt ngắn và một đợt nhiều tháng không cùng sức nặng. Các thuốc lợi tiểu nhóm thiazide và vài thuốc điều trị bệnh tâm thần cũng đẩy về cùng hướng ấy.

Cũng có ví dụ chạy theo chiều ngược lại. Vài kháng sinh họ quinolone kích thích việc tiết insulin bằng cách đóng kênh kali của tế bào beta; vì thế các báo cáo hạ đường huyết nổi lên. Chính họ ấy cũng sinh ra báo cáo ở đầu ngược lại, nghĩa là thấy được cả hai chiều. Còn nhóm chẹn beta thì phần lớn không đổi tác dụng mà đổi lời cảnh báo; vài tín hiệu cơ thể đưa ra bị yếu đi. Kết cục trông không giống nhau, nhưng cả hai đều làm bức tranh mờ đi.

Loại tương tácChuyện xảy ra trong cơ thể
Loại đẩy đường huyết lênĐạp ngược hướng mà thuốc tiểu đường đang kéo, xu hướng xê dịch lên
Loại kéo đường huyết xuốngTế bào beta tăng tiết, hoặc hai tác dụng chồng lên nhau
Loại che lời cảnh báoTác dụng vẫn còn nhưng các tín hiệu cơ thể đưa ra thì yếu đi
Loại đổi việc thải trừHai chất dùng chung một enzyme, chất này kéo dài thời gian ở lại của chất kia

Tương tác lộ rõ nhất vào một khoảnh khắc. Lúc một thuốc vào hoặc ra khỏi danh sách. Khi một thuốc dẫn xuất cortisone kết thúc thì lực đẩy lên cũng mất, và bức tranh quay trở lại. Sự quay lại ấy không lặng lẽ; xu hướng trong các phép đo đổi chiều trong vài ngày. Lúc kết thúc cũng mang tin không kém lúc bắt đầu.

Thảo dược và thực phẩm bổ sung cũng không nằm ngoài. Ở những cây như nhân sâm và mướp đắng, người ta đã báo cáo phần đóng góp kéo đường huyết xuống; dùng chung với một thuốc hạ đường thì tổng tác dụng có thể lớn lên. Với dây thìa canh thì kết quả lẫn lộn: trong một nghiên cứu, người ta thấy nó làm giảm việc metformin đi vào máu. Chữ thảo dược không có nghĩa là không có tác dụng. Lượng hoạt chất trong thành phần cũng có thể dao động từ hộp này sang hộp khác.

Nhìn được trọn danh sách thì khó. Khó hơn người ta tưởng. Những hộp mở ra từ một năm trước nằm lại phía sau và không ai đếm chúng. Một viên giảm đau uống theo thói quen thì không bao giờ vào danh sách. Một loại trà thảo mộc cũng chẳng ai nghĩ tới, vì nó không được xem là thuốc. Còn bản ghi của hiệu thuốc thì chỉ cho thấy những gì mua ở đó. Nhìn thấy tất cả các hộp cạnh nhau một lần sẽ gom những mảnh rời ấy lại.

Phần lớn tương tác không bí ẩn. Cũng không bất ngờ. Chúng là những mối quan hệ đã được biết và được nêu tên trong các nguồn. Phần lớn cũng có ghi trong tờ hướng dẫn. Chia sẻ cả danh sách khi một hộp mới bước vào sẽ ngăn trước một câu đố về sau rất khó gỡ. Và chỗ ra quyết định cũng ở đây: người bác sĩ và người dược sĩ nhìn thấy trọn danh sách.

Bài này có trang riêngQuay lại thẻ

Trong lối đi lát đá cũ, các bậc đá đã lõm và mòn tròn ở giữa vì bị giẫm lên mãi; sắc nâu sepia ấm.Vì sao phải đổi chỗ tiêm?Việc tiêm vào cùng một vùng suốt nhiều năm sẽ lặng lẽ đổi tốc độ mà insulin đi từ đó vào máu. Trên bề mặt có khi thấy một chỗ gồ nhỏ, có khi chẳng thấy dấu vết gì; thứ đổi đi là lớp mô nằm dưới da. Đó cũng chính là lý do thật sự của việc người ta đổi chỗ tiêm. · 3 phútĐọc tiếp

Insulin không chỉ chạm tới đường huyết. Với tế bào mỡ, nó còn chở một lời gọi hãy lớn lên. Nếu cùng một vùng nhỏ nhận lời gọi ấy liên tục suốt nhiều năm thì mô mỡ ở đó vừa lớn lên về thể tích vừa nhiều lên về số lượng. Thứ hiện ra không phải một chỗ sưng. Không giản dị thế. Một nghiên cứu chỉ ra nguồn chính của chỗ gồ ấy không phải tổn thương do mũi kim, mà là tác dụng tạo mỡ của insulin. Các khảo sát thực địa cũng nhắc tới việc dùng lại đầu kim cùng với sự chai cứng; ở đó cái thấy được không phải một cơ chế, mà là một sự đi kèm quyện vào việc cứ bám mãi một vùng.

Mô đã đổi thì không giống da lành. Mạng mao mạch bên dưới nó đã khác. Việc đi từ vùng ấy vào máu vừa chậm đi rõ rệt vừa khác nhau qua từng ngày. Cùng một lần tiêm cho kết quả như chờ đợi vào một ngày, hôm sau lại kém xa mức chờ đợi. Sự chập chờn này nổi lên như một nguồn lặng lẽ của những lên xuống không tìm ra nguyên do trong các phép đo. Vì vậy các hướng dẫn xem việc kiểm tra vùng tiêm đều đặn là điều quan trọng.

Đọc bức tranh này thành sự lười biếng thì sai. Sai từ đầu tới cuối. Sự chai cứng gặp cả ở người có kỹ thuật chuẩn; thứ định đoạt là cùng một vùng bị nạp bao nhiêu lần. Bề mặt thích hợp dưới da rộng hơn người ta tưởng rất nhiều, còn phần mà phần đông cứ quanh quẩn thì chỉ là một mảnh nhỏ của nó. Ở những người trải gánh ra một diện tích rộng, tỉ lệ này trong các nghiên cứu thấp hơn hẳn.

Dưới da lànhMô đã chai cứng
Mạng mao mạch dày, dòng máu đềuChỗ dựa mao mạch yếu đi, dòng chảy thành không đều
Hấp thu đi theo một đường dự đoán đượcHấp thu vừa chậm lại vừa dao động qua từng ngày
Cùng một lượng cho kết quả tương tựCùng một lượng có thể cho những kết quả khác nhau
Mũi kim đâm vào cảm thấy như bình thườngVì độ nhạy giảm nên thấy dễ chịu hơn

Lại còn một vòng lặp nữa. Nó tự nuôi chính nó. Vì độ nhạy của vùng đã chai giảm đi nên mũi kim ở đó ít làm đau hơn. Cái điểm thấy dễ chịu lại được chọn lần nữa, mà người ta không nhận ra. Thế là mô tiếp tục lớn lên, và việc hấp thu càng thêm khó tin cậy. Thứ khởi động vòng lặp không phải cơn đau, mà là thói quen.

Lý do người ta cứ chọn mãi một điểm thì giấu trong đời thường. Rất giản dị. Khi đèn đã tắt, bàn tay tự tìm tới chỗ quen nhất. Vùng mà quần áo vén lên dễ nhất, theo thời gian, thành ra lựa chọn duy nhất. Khi có sự vội vã xen vào thì bề mặt gần nhất tiến lên trước; còn những mặt xa của cánh tay hay của chân thì không bao giờ tới lượt. Cả ba tình huống đều để cùng một vùng nhỏ nằm dưới cùng một gánh suốt nhiều năm.

Phì đại mỡ không hiếm. Nó gặp ở khoảng một nửa số người dùng insulin. Những chỗ gồ nhỏ và phẳng thì rất dễ lọt khỏi mắt. Việc sờ bằng tay khi khám bắt được một phần đáng kể các vùng ấy, còn siêu âm thì cho thấy được sự thay đổi ngay cả khi trên bề mặt không có dấu vết nào. Khi một vùng được để yên không nạp trong một thời gian thì mô có thể lui lại từ từ; nhưng sự lui ấy không diễn ra nhanh, và ở những chỗ gồ đã đóng lâu thì càng chậm hơn. Vì vậy nhận ra sớm là điều đáng giá. Ê kíp y tế có thể thấy được tình hình bằng cách rà tay qua các vùng này trong lúc khám.

Bài này có trang riêngQuay lại thẻ

Cận cảnh một tấm chăn màu hồng phấn có kết nổi; một góc đã cuộn lại, trong nếp gấp chéo là một mảng bóng mềm.Những ngày ốm thì thuốc ra sao?Một ngày trôi qua với sốt, nôn hay tiêu chảy sẽ kéo đường huyết về hai hướng cùng lúc. Sự căng thẳng của bệnh đẩy nó lên; việc không ăn được và mất dịch thì kéo nó xuống. Cách hành xử của vài thuốc cũng đổi trong những ngày như thế, vì cân bằng dịch và tốc độ của thận không còn như cũ. · 2 phútĐọc tiếp

Một nhiễm trùng có sốt đưa cơ thể vào trạng thái báo động và đẩy lên các nội tiết tố đối kháng như cortisol, adrenaline, glucagon. Những nội tiết tố này làm cùn đáp ứng của các mô với insulin, và làm nhanh việc gan sản xuất đường. Nghĩa là ốm sẽ đưa đường huyết lên, ngay cả khi không ăn gì. Còn có một lực nữa chạy ngược lại. Nôn và tiêu chảy mang đi cả thức ăn lẫn dịch, và kéo bức tranh về phía ngược lại.

Điểm mong manh nhất là việc thiếu nước. Khi dịch vơi đi thì dòng máu tới thận giảm, và thận làm chậm tốc độ dọn các chất khỏi máu. Những thuốc rời cơ thể chủ yếu qua đường thận chịu ảnh hưởng thẳng từ sự chậm ấy. Metformin là ví dụ nổi tiếng nhất. Chất vốn ra ngoài không trở ngại trong điều kiện bình thường, khi đường ra hẹp lại thì dồn trong máu và làm căng cân bằng acid lactic.

Các thuốc ức chế SGLT-2 đi một đường khác. Vì họ này gửi đường ra ngoài theo nước tiểu nên nó vốn đã làm tăng mất dịch; điều đó chồng lên phần mất do bệnh mang tới. Nó còn một tác dụng thứ hai. Nó làm lệch thế cân bằng giữa insulin và glucagon, cơ thể quay sang lấy mỡ làm nhiên liệu, và việc tạo ceton nhanh lên. Bức tranh nhiễm toan sinh ra từ đó có thể phát triển ngay cả khi phép đo trông không cao; tên của nó trong y văn là nhiễm toan ceton đường huyết bình thường.

Cả hai bức tranh đều gặp không thường xuyên. Nhưng gặp không thường xuyên không có nghĩa là không đáng kể, khi các điều kiện chồng lên nhau. Nguyên do của sự mong manh đổi theo từng họ; điểm yếu của mỗi họ nằm ở một chỗ khác.

  • Metformin: đường ra gần như hoàn toàn đi qua thận, và mất dịch là thứ đầu tiên làm hẹp con đường ấy.
  • Ức chế SGLT-2: làm sâu thêm việc mất dịch và làm cho việc tạo ceton dễ hơn.
  • Sulfonylurea: vẫn tiếp tục kích thích tuyến tụy, và khi không có thức ăn vào thì khả năng hạ đường huyết lớn lên.
  • Chủ vận GLP-1: làm chậm việc rỗng dạ dày, làm sâu thêm buồn nôn và chán ăn.
  • Vài thuốc huyết áp và thuốc lợi tiểu: đẩy việc mất dịch và gánh của thận về cùng một hướng.
  • Insulin: trong danh sách này thì nó đứng ngược lại, vì nhu cầu không biến mất.

Insulin thật sự đứng ở một chỗ khác trong danh sách này. Trong lúc nhiễm trùng, nhu cầu của cơ thể với insulin không giảm; phần lớn là nó tăng. Việc cho insulin ra khỏi cuộc hoàn toàn chỉ vì cái đĩa còn trống sẽ hé mở một cánh cửa thứ hai lên trên vấn đề thứ nhất. Cơ thể chuyển sang đốt mỡ và các ceton dồn lại. Nghĩa là không ăn được thì cũng không tự nó đưa nhu cầu insulin về không.

Tổng của tất cả những điều đó là thế này. Ngày ốm sẽ ra sao thì tùy họ thuốc, tùy tình trạng thận, tùy thức ăn có ở lại trong dạ dày hay không, và tùy bệnh sẽ kéo dài mấy ngày. Một câu chung duy nhất không đáp ứng nổi bốn biến số cùng lúc. Vì vậy các quy tắc ngày ốm là một kế hoạch có sẵn, mà người ta dựng cùng ê kíp điều trị lúc còn khỏe. Khi cơn sốt lên và giấc ngủ bị cắt thì làm ra một quyết định mới là việc khó. Một văn bản viết sẵn sẽ chuyển quyết định về một ngày khỏe mạnh. Có người giữ tờ giấy ấy trong ngăn tủ đầu giường, cạnh cái nhiệt kế.

Bài này có trang riêngQuay lại thẻ

Một chiếc cân hai đĩa bằng gang cổ trên mặt bàn gỗ; đĩa bên trái trống và đang ở trên, đĩa bên phải có hai quả cân và đã hạ xuống.Thuốc tiểu đường có làm tăng cân?Các thuốc hạ đường huyết không để lại cùng một dấu trên cân; có thuốc chẳng làm cân nhúc nhích, có thuốc lật ngược cả chiều. Khoảng chênh ấy không phải ngẫu nhiên; nó là hệ quả thẳng của con đường mà thuốc đi trong cơ thể. Sau chuyển động trên cân có khi là cơn thèm, có khi là dịch, có khi là calo. · 2 phútĐọc tiếp

Cân nặng là số dư dài hạn giữa năng lượng nạp vào và năng lượng tiêu đi. Một thuốc chạm tới số dư ấy qua ba cánh cửa. Lượng glucose rời khỏi cơ thể, sức của cơn thèm ăn, và xu hướng dự trữ của các mô. Nó vào bằng cửa nào thì định ra chiều; còn bề rộng của khe cửa thì mỗi cơ thể một khác.

ChiềuNhững họ nàoNguyên do
Tănginsulin, sulfonylurea, glitazoncalo không còn ra ngoài, ăn thêm để đối phó hạ đường, mô mỡ và dịch
Trung tínhmetformin, ức chế DPP-4, acarbosekhông làm xê dịch việc thải glucose; metformin nghiêng về một mức giảm nhẹ
Giảmchủ vận GLP-1, ức chế SGLT-2cơn thèm tắt đi, calo đi theo nước tiểu

Cánh cửa thứ nhất không phải một ý mới. Nó là một bức tranh cũ được lật ngược. Về chuyện khi đường cao thì một phần calo mất theo nước tiểu, đã có một bài riêng. Phần thêm ở đây là thế này. Khi điều trị kéo đường xuống thì chỗ rò ấy đóng lại, và cùng bữa ăn ấy giờ ở lại trong cơ thể. Vì vậy một phần của mức tăng trên cân lại là bằng chứng rằng thuốc đang làm việc của nó. Cân đi lên trong lúc phép đo đang tốt lên thì không bị xem là mâu thuẫn.

Cánh cửa thứ hai là cơn thèm ăn. Insulin và các thuốc kích thích tuyến tụy, trong lúc kéo đường huyết xuống, cũng mang theo nguy cơ hạ đường huyết. Người biết điều đó sẽ ăn thêm để giữ mình an toàn. Trong y văn, cái này tên là ăn vặt phòng vệ. Nó không phải một sự yếu đuối, mà là một khuôn hành vi được chờ đợi.

Cánh cửa thứ ba mở ra trong chính mô. Insulin là một nội tiết tố đỡ cho việc dự trữ. Ở nhóm glitazon thì việc giữ nước còn cộng thêm vào sự nở ra của mô mỡ, và cái cân không tách được hai thứ đó. Vì vậy một phần chuyển động trong những tuần đầu không phải mỡ mà là nước. Dịch tới nhanh và đi nhanh; còn mỡ thì dồn lại chậm.

Hai họ ở chiều ngược lại làm việc bằng những con đường khác. Ở các ức chế SGLT-2 thì cánh cửa lại là nước tiểu; calo đi từ đó. Phép tính trên giấy hứa một mức mất lớn, còn mức giảm thật thì chừng mực hơn, vì cơ thể bù lại chỗ hụt tới một mức nào đó. Còn các chủ vận GLP-1 thì làm việc qua cơn thèm và qua việc rỗng dạ dày; cảm giác no kéo dài hơn.

Đọc bức tranh này thì cần giữ trong tay một lằn ranh. Thuốc không phải đầu vào duy nhất. Một ngày trôi qua trong vận động và một ngày phần lớn ngồi thì không ghi vào cùng một số dư. Thắt lưng đang ở lỗ nào có khi cũng nói nhiều hơn cái cân trong phòng tắm. Chiều của cân nặng không tự nó quyết định việc chọn thuốc; tình trạng thận và tình trạng tim cũng đứng trên cùng cái bàn ấy.

Bài này có trang riêngQuay lại thẻ

Bài này chỉ mang tính thông tin; nó không phải chẩn đoán, không phải chỉ định điều trị hay liều dùng. Quyết định về việc điều trị của bạn luôn là việc bàn cùng bác sĩ.

Toàn bộ blog