Blog
Thuật ngữ
Những từ bạn gặp trong kết quả xét nghiệm và trong phòng khám.
A
- Albumin niệu vi lượng
- Là việc trong nước tiểu có protein albumin nhiều hơn bình thường, nhưng ít tới mức xét nghiệm nước tiểu thông thường không bắt được. Nó được coi là một dấu của tổn thương sớm ở các đơn vị lọc của thận, và vì phát hiện được trước khi có than phiền nào nên nó được xem đều đặn khi theo dõi tiểu đường. Các hướng dẫn về thận hiện nay gọi tình trạng này là albumin niệu tăng vừa.(albumin trong nước tiểu, albumin niệu, microalbumin, albumin niệu tăng vừa)
B
- Bác sĩ nội tiết
- Bác sĩ nội tiết là thầy thuốc lo về bệnh của các cơ quan tạo hormone, và đã học thêm chuyên khoa trên nền đào tạo nội khoa. Bệnh tiểu đường, các bệnh tuyến giáp và những rối loạn hormone khác đều nằm trong phạm vi ấy; trong việc chăm sóc tiểu đường thì việc dựng kế hoạch điều trị và đánh giá các tình huống phức tạp thường do chuyên khoa này lo.(chuyên khoa nội tiết, bác sĩ chuyên về hormone, bác sĩ chữa tiểu đường)
- Bàn chân tiểu đường
- Là toàn bộ những vấn đề ở bàn chân mà tổn thương thần kinh và sự kém lưu thông ở mạch máu chân cùng nhau dọn sẵn trong bệnh tiểu đường. Vì cảm giác giảm nên áp lực, sự cọ xát hay một chỗ xây xát nhỏ có thể không được nhận ra; vì máu tới kém nên việc lành chậm lại và vết loét hở có thể hình thành. Khám bàn chân vì thế là việc làm đều đặn.(vết loét bàn chân, loét bàn chân do tiểu đường, vết thương do đường)
- Bệnh thận do tiểu đường
- Là bệnh thận gắn với tiểu đường: đường huyết và huyết áp cứ cao kéo dài sẽ làm hao mòn các đơn vị lọc rất nhỏ của thận, tức các cầu thận. Dấu sớm hay gặp là protein albumin rò vào nước tiểu nhiều hơn bình thường; còn ở vài người thì sức lọc giảm đi mà albumin không tăng. Vì nó có thể đi lặng lẽ nên nó được theo dõi bằng xét nghiệm nước tiểu và máu.(bệnh thận đái tháo đường, tổn thương thận do đường, tiểu đường ở thận)
- Bệnh thần kinh do tiểu đường
- Là tổn thương thần kinh phát triển khi đường huyết cao kéo dài làm hao mòn các dây thần kinh. Thể hay gặp nhất là sự mất cảm giác bắt đầu từ hai bàn chân rồi đi ngược lên, ăn vào cả hai bên cùng lúc; nó cảm thấy được như tê, châm chích, bỏng rát hoặc đau. Cảm giác giảm đi khiến các vết thương không được nhận ra, nên nó cũng quan trọng với bàn chân.(tổn thương thần kinh, tiểu đường ở dây thần kinh, bệnh thần kinh ngoại biên, viêm đa dây thần kinh)
- Bệnh võng mạc do tiểu đường
- Là tổn thương ở mắt phát triển khi đường huyết cao kéo dài làm hao mòn các mạch máu nhỏ của lớp lưới nằm sau mắt, tức võng mạc. Mạch có thể rỉ, có thể tắc, hoặc có thể mọc ra những mạch mới dễ vỡ. Ở giai đoạn sớm thì nó thường không cho triệu chứng, vì thế nó được phát hiện bằng các đợt khám mắt đều đặn.(bệnh võng mạc, tổn thương mắt do đường, tiểu đường ở mắt, bệnh mắt do tiểu đường)
- Bộ mỡ máu
- Là xét nghiệm máu đo gộp các chất béo trong máu; nó gồm những mục như cholesterol toàn phần, LDL, HDL và triglyceride. Vì khi cân bằng đường lệch đi thì mỡ máu cũng hay bị ảnh hưởng nên nó được yêu cầu theo những khoảng đều đặn trong việc theo dõi tiểu đường, và được coi là một phần của việc đánh giá sức khỏe mạch máu.(mỡ máu, xét nghiệm cholesterol, bảng lipid)
- Bơm insulin
- Là thiết bị nhỏ đeo trên người, đưa insulin vào một cách liên tục và lập trình được, qua một ống thông mảnh đặt dưới da. Bên cạnh lượng nền chảy suốt ngày thì còn thêm được liều cho các bữa ăn; vài kiểu máy chạy cùng với các cảm biến đo đường.(điều trị bằng bơm, truyền insulin liên tục, CSII)
- Bút tiêm insulin
- Là dụng cụ mang insulin trong một thân hình cây bút, cho phép đưa thuốc xuống dưới da bằng cây kim mảnh lắp ở đầu. Nút chỉnh trên bút chạy theo thang đơn vị; có loại nạp sẵn dùng ngay và có loại thay được ống thuốc bên trong.(bút tiêm, insulin pen)
C
- C-peptide
- Insulin được tạo trong tuyến tụy bằng cách cắt từ một phân tử tiền thân tên là proinsulin; đoạn nối còn lại sau khi cắt được gọi là C-peptide. Vì nó được thả vào máu với lượng ngang insulin nên mức của nó trong máu phản ánh cơ thể còn tạo insulin của chính mình tới đâu. Insulin đưa từ bên ngoài vào không làm phép đo này cao lên.(peptide C, đoạn nối, xét nghiệm C-peptide)
- Carbohydrate
- Là tên gọi chung của đường, tinh bột và chất xơ trong thức ăn. Trừ chất xơ ra thì các carbohydrate phần lớn bị bẻ thành glucose trong lúc tiêu hóa rồi đi vào máu; vì thế carbohydrate là chất dinh dưỡng ảnh hưởng tới đường huyết rõ hơn hẳn so với chất béo và chất đạm. Bánh mì, cơm, trái cây, sữa và đồ ngọt là những nguồn chính của nó.(các carbohydrate, carb, tinh bột và đường)Thực phẩm nào làm tăng đường huyết? →
- Ceton
- Là những hợp chất mà gan tạo ra bằng cách bẻ mỡ, dùng được như nhiên liệu dự phòng, khi cơ thể không dùng được đường cho đủ để lấy năng lượng. Việc chúng sinh ra một lượng nhỏ khi nhịn đói lâu là chuyện thường; còn khi thiếu insulin mà chúng tích lại và lên cao thì chúng làm lệch cân bằng axit của máu. Chúng đo được cả trong máu lẫn trong nước tiểu.(thể ceton, ceton niệu, aceton trong nước tiểu)
- Ceton trong nước tiểu
- Là việc phát hiện trong nước tiểu các chất mang tên ceton, sinh ra khi cơ thể quay sang đốt mỡ thay cho đường để lấy năng lượng. Nó cũng thấy được khi nhịn đói lâu; còn khi thiếu insulin thì ceton tích lại có thể làm máu chua đi, nên đây là một dấu được theo dõi. Que thử nước tiểu chỉ bắt được một phần các loại ceton, nên nó không cho cùng tin với phép đo máu.(ceton niệu, ceton nước tiểu, que thử ceton)
- Chất tạo ngọt
- Là những chất cho vị ngọt vào thức ăn và đồ uống mà không dùng đường. Các chất tạo ngọt đậm đặc được dùng với lượng rất nhỏ nên phần lớn không cho năng lượng và không đẩy đường huyết lên như đường. Aspartame, sucralose, acesulfame K và các steviol glycoside lấy từ cây cỏ ngọt đều nằm trong nhóm này.(chất tạo ngọt nhân tạo, thứ thay cho đường, chất tạo ngọt không calo, cỏ ngọt)
- Chất xơ
- Là loại carbohydrate có trong thức ăn thực vật mà các men tiêu hóa của người không bẻ được. Xơ hòa tan làm đặc thứ nằm trong ruột, nhờ đó làm chậm việc rỗng dạ dày và việc hấp thu đường; còn xơ không hòa tan thì làm tăng khối phân và đỡ cho nếp làm việc của ruột. Rau, trái cây, đậu và ngũ cốc nguyên hạt là những nguồn giàu chất này.(xơ, chất xơ thực phẩm, xơ hòa tan, xơ không hòa tan)
- Chỉ số đường huyết (GI)
- Là thang so sánh mức đường huyết dâng lên do các thức ăn chứa cùng một lượng carbohydrate gây ra, với thức ăn quy chiếu được lấy là 100; phép đo dựa trên đáp ứng trong hai giờ sau khi ăn. Thức ăn có giá trị thấp thì gây một mức dâng nhỏ hơn. Thời gian nấu, độ chín cùng chất béo và chất xơ trong bữa đều có thể làm giá trị ấy đổi đi.(GI, chỉ số glycemic)
D
- Dao động đường huyết
- Dao động đường huyết là khái niệm nói về việc đường huyết lên xuống tới mức nào trong một ngày và giữa các ngày. Hai bản theo dõi có cùng số trung bình vẫn có thể cho những đường lên xuống rất khác nhau; vì thế bên cạnh số trung bình thì độ rộng của dao động cũng được xét tới. Nó được đưa thành số bằng độ lệch chuẩn và hệ số biến thiên.(sự lên xuống của đường huyết, tính bất ổn của đường huyết, biến thiên đường huyết)
Đ
- Đái tháo đường (diabetes mellitus)
- Tên trong y học của nhóm bệnh chuyển hóa mạn tính được định nghĩa bằng việc đường huyết cứ cao kéo dài. Chỗ chung của mọi thể là insulin không được tạo ra cho đủ, hoặc có được tạo ra mà không tác dụng tới mức cơ thể cần. Cái tên ghép từ chữ Hy Lạp nghĩa là chảy qua và chữ Latinh nghĩa là có mật ong, tức chỉ vào đường trong nước tiểu.(bệnh tiểu đường, tiểu đường)Tiểu đường là gì và cơ thể ra sao? →
- Đề kháng insulin
- Là việc các tế bào cơ, mỡ và gan không còn đáp lại tín hiệu của insulin như trước nữa. Để làm được cùng một việc thì tuyến tụy tiết ra nhiều insulin hơn; chừng nào sự bù đắp ấy còn đủ thì đường huyết vẫn có thể trông bình thường. Đây là một trong những cơ chế nền của tiểu đường tuýp 2.(kém nhạy với insulin, độ nhạy insulin giảm đi)
- Đếm carbohydrate
- Là cách ước ra bằng gam lượng carbohydrate sẽ ăn trong một bữa; người ta dùng thông tin trên nhãn, các dụng cụ đong và bảng thành phần thức ăn. Ở người dùng insulin thì nó cho phép khớp liều của bữa với lượng carbohydrate của chính bữa ấy, còn ở người không dùng insulin thì nó làm cho việc theo dõi khẩu phần dễ đi.(tính carbohydrate, đếm carb)Ăn gì quan trọng hay ăn bao nhiêu? →
- Điều dưỡng giáo dục tiểu đường
- Điều dưỡng giáo dục tiểu đường là điều dưỡng đã học thêm để dạy cho người sống với bệnh này cách quản lý nó hằng ngày. Người ấy dạy thực hành về việc dùng máy đo, kỹ thuật tiêm, cách chăm bàn chân và cách nhận ra các dấu của cú tụt đường huyết; đó là chân giáo dục của đội ngũ điều trị.(điều dưỡng tiểu đường, người hướng dẫn về tiểu đường)
- Đơn vị (IU)
- Là đơn vị đo lượng insulin; đây là một thước quốc tế được định nghĩa theo sức tác dụng chứ không theo thể tích. Thang trên các bút tiêm và bơm tiêm insulin được đánh dấu theo đơn vị này, nhờ vậy lượng thuốc ở những sản phẩm khác nhau vẫn được nói bằng cùng một thứ tiếng.(IU, đơn vị quốc tế, đơn vị insulin)
- Đơn vị IFCC (mmol/mol)
- Là đơn vị quốc tế trong đó kết quả HbA1c được đưa ra theo mmol/mol. Vì nó dùng một thang số khác với cách viết phần trăm nên cùng một kết quả ở đơn vị này trông thành một con số lớn hơn nhiều. Giữa hai đơn vị có một công thức đổi cố định; các con số tuy khác nhau nhưng thứ được đo thì vẫn là một.(mmol/mol, IFCC, đơn vị SI)
- Đơn vị NGSP/DCCT (%)
- Là đơn vị trong đó kết quả HbA1c được viết dưới dạng phần trăm. Tên của nó lấy từ chương trình NGSP đã chuẩn hóa phép đo và từ nghiên cứu DCCT mà kết quả dựa vào. Cách viết theo phần trăm được dùng rộng rãi; cùng một kết quả cũng viết được bằng đơn vị mmol/mol, vài phòng xét nghiệm ghi cả hai, và thứ được đo thì ở cả hai đều là một.(đơn vị phần trăm, đơn vị DCCT, NGSP)
- Đường đơn
- Là những carbohydrate gồm một hoặc hai đơn vị đường; glucose, fructose, đường ăn và đường sữa đều nằm trong nhóm này. Vì cấu trúc của chúng ngắn nên việc tiêu hóa xong nhanh, và chúng thường được hấp thu chóng hơn so với các carbohydrate chuỗi dài như tinh bột.(đường, đường hấp thu nhanh, monosaccharide, disaccharide, sucrose)
- Đường huyết sau ăn
- Là giá trị đường huyết đo sau khi bắt đầu bữa ăn một khoảng thời gian nhất định. Nó cho thấy carbohydrate đã ăn đi vào máu nhanh tới đâu và cơ thể gánh được tải ấy tới mức nào. Những trường hợp mà phép đo lúc đói trông bình thường trong khi các giá trị sau ăn lại lên cao thì được nhận ra bằng phép đo này.(đường huyết hậu ăn, đường sau bữa ăn, PPG)
- Đường rượu (polyol)
- Là những carbohydrate như sorbitol, maltitol, xylitol và erythritol, có vị giống đường nhưng không được cơ thể đổi trọn thành năng lượng. Chúng cho ít năng lượng hơn đường và đẩy đường huyết lên ít hơn. Phần đi tới được ruột già, nếu ăn nhiều quá, có thể gây đầy hơi và đi ngoài phân lỏng.(polyol, sorbitol, xylitol, erythritol, maltitol)
- Đường trong nước tiểu
- Là việc đường trong máu đi sang nước tiểu khi nó vượt quá khả năng thu lại của thận. Bình thường thì thận lấy gần như toàn bộ đường về lại máu; thấy đường trong nước tiểu phần lớn khiến người ta nghĩ tới đường huyết đang cao. Một mình nó không đủ để chẩn đoán: vài nhóm thuốc cũng làm đường thải ra theo nước tiểu, nên nó được xét cùng các phép đo máu.(glucose niệu, glucose trong nước tiểu, thải đường qua nước tiểu)
E
- eAG (glucose trung bình ước tính)
- Là giá trị tương đương ước tính của kết quả HbA1c, đã đổi sang đơn vị vẫn dùng trong các lần đo đường huyết hằng ngày. Thay cho một con số trừu tượng như phần trăm hay mmol/mol, nó đưa ra một giá trị trung bình cùng loại với thứ người ta thấy trên máy đo. Nó không đòi lấy máu lần nữa; nó được tính từ HbA1c bằng một công thức rút ra từ các nghiên cứu.(glucose trung bình ước tính, glucose trung bình, eAG)HbA1c là gì và vì sao là ba tháng? →
- eGFR (tốc độ lọc của thận)
- Là việc ước ra tốc độ thận lọc máu, tính từ mức creatinine trong máu cùng với những thông tin như tuổi và giới. Vì nó không được đo thẳng nên chữ e ở đầu tên có nghĩa là ước tính. Đây là một trong các giá trị nền dùng để theo dõi chức năng thận đi thế nào qua thời gian.(mức lọc cầu thận ước tính, tốc độ lọc của thận, GFR)
F
- Fructose
- Là đường đơn có trong trái cây, trong mật ong và trong vài loại siro ngô; một nửa của đường ăn cũng là fructose. Sau khi vào máu thì phần lớn nó được xử ở gan, nên nó không đẩy đường huyết lên nhanh như glucose, nhưng vẫn được tính vào phần năng lượng và carbohydrate.(đường trái cây)
G
- Glucagon
- Hormone tiết ra từ các tế bào alpha của tuyến tụy và có tác dụng ngược với insulin. Khi đường huyết bắt đầu xuống thì nó thúc cho kho glycogen trong gan chuyển thành glucose, nhờ vậy đường được trả vào máu. Nó cũng có những dạng đã bào chế thành thuốc.(hormone glucagon)
- Glucose
- Loại đường đơn chạy trong máu và được các tế bào dùng làm nhiên liệu chính. Nó thoát ra khi carbohydrate trong thức ăn được tiêu hóa rồi đi vào máu; ở nhiều mô như cơ và mô mỡ thì việc đưa nó vào trong tế bào phụ thuộc vào insulin. Khi nói về lượng của nó trong máu thì tiếng thường ngày gọi là đường huyết.(đường huyết, đường nho, dextrose)Tiểu đường là gì và cơ thể ra sao? →
- Glucose huyết tương lúc đói
- Là mức đường được đo trong huyết tương tách ra từ máu lấy ở tĩnh mạch cánh tay, sau khi nhịn ăn qua đêm. Nó phản ánh cân bằng đường nền khi cơ thể không đang chịu tải của bữa ăn. Đây là một trong các phép đo hay dùng nhất khi tầm soát tiểu đường và tiền tiểu đường; kết quả được lấy trong điều kiện chuẩn của phòng xét nghiệm, khác với các lần đo lẻ tại nhà.(đường huyết lúc đói, đường huyết đói, FPG)Đường huyết đói và no đo điều gì? →
H
- Hạ đường huyết
- Là tình trạng đường huyết xuống dưới khoảng mục tiêu của một người. Nó có thể hiện ra bằng những dấu như run, toát mồ hôi, tim đập mạnh, đói cồn cào, da tái và không tập trung nổi; ở những cú tụt sâu hơn thì có thể thấy sự lú lẫn. Các cú tụt nhẹ thường được kéo về bằng carbohydrate hấp thu nhanh.(tụt đường huyết, đường huyết thấp, hạ đường)Làm sao nhận biết hạ đường huyết? →
- HbA1c
- Là xét nghiệm cho thấy tỷ lệ đường đã gắn vào protein hemoglobin trong máu. Dấu vết ấy dồn lại suốt đời sống của hồng cầu, nên nó cho biết mức đường huyết trung bình của khoảng hai tới ba tháng vừa qua. Vì nó nhìn vào một quãng dài chứ không nhìn vào một khoảnh khắc nên được dùng cả khi chẩn đoán lẫn khi theo dõi.(A1c, hemoglobin gắn đường, hemoglobin glycat hóa, đường trung bình ba tháng)HbA1c là gì và vì sao là ba tháng? →
- Hiện tượng bình minh
- Là việc đường huyết lên cao về phía giờ thức dậy dù chẳng ăn gì, do các hormone như hormone tăng trưởng và cortisol tăng lên lúc gần sáng làm nhanh việc gan nhả đường. Ở người không có tiểu đường thì nhu cầu insulin vào những giờ ấy cũng tăng, nhưng vì việc tiết insulin theo kịp nên không thấy mức dâng nào.(hiện tượng rạng sáng, hiệu ứng bình minh, dawn phenomenon, đường huyết lên lúc sáng)
I
- Insulin
- Hormone do tuyến tụy tạo ra, làm cho glucose trong máu được đưa vào các tế bào. Sau bữa ăn thì nó tiết ra nhiều hơn; nó làm cho cơ và mô mỡ nhận glucose vào trong, còn phần dư thì được cất ở gan và ở cơ dưới dạng glycogen. Người ta biết tới nó như hormone chính hạ đường huyết xuống.(hormone insulin)Insulin là gì và có tác dụng gì? →
- Insulin nền
- Là loại insulin có tác dụng trải ra trong một quãng dài, được thiết kế để đáp ứng phần insulin nền mà cơ thể luôn cần tới, không phụ thuộc vào các bữa ăn. Mục đích của nó là giữ cân bằng nền của đường huyết trong khoảng giữa các bữa và suốt đêm.(insulin tác dụng dài, insulin cơ bản, insulin ban đêm)
- Insulin theo bữa
- Là insulin tác dụng nhanh, dùng nhắm vào một thời điểm nhất định, để đáp lại ảnh hưởng của carbohydrate trong bữa ăn lên đường huyết hoặc để kéo một giá trị đã lên cao về lại. Tác dụng của nó bắt đầu trong thời gian ngắn và kết thúc tương đối chóng.(insulin bữa ăn, insulin tác dụng nhanh, insulin tác dụng ngắn)
- Insulin trộn sẵn
- Là dạng trong đó một insulin tác dụng nhanh hoặc ngắn được ghép sẵn theo một tỷ lệ định trước với một insulin chậm hơn và dài hơn, trong cùng một bút hay một lọ. Nó nhắm tới việc đáp cả mức dâng sau bữa ăn lẫn nhu cầu nền bằng chỉ một mũi tiêm; vì tỷ lệ đã cố định nên không chỉnh riêng được từng thành phần.(insulin hỗn hợp, insulin premix, insulin mix)
K
- Khám đáy mắt
- Là việc xem xét phần sau của mắt, tức võng mạc, các mạch máu và đầu dây thần kinh thị giác, bằng một nguồn sáng riêng hoặc một máy chụp võng mạc; đồng tử thường được nhỏ thuốc cho giãn ra trước. Trong bệnh tiểu đường thì đây là cách tầm soát chính giúp thấy các đổi thay ở mạch máu khi thị lực còn chưa bị ảnh hưởng.(soi đáy mắt, khám võng mạc, chụp đáy mắt)
- Kháng thể kháng GAD
- Kháng thể mà hệ miễn dịch tạo ra để chống lại men GAD (glutamic acid decarboxylase) có trong các tế bào tạo insulin. Việc phát hiện nó trong máu chỉ ra rằng bệnh tiểu đường có gốc tự miễn; người ta biết tới nó như kháng thể kháng tiểu đảo hay gặp nhất trong những trường hợp khởi phát ở tuổi trưởng thành.(kháng thể GAD65, kháng glutamic acid decarboxylase, kháng thể kháng tiểu đảo)
- Khát nhiều
- Khát nhiều nghĩa là muốn uống nước nhiều hơn hẳn bình thường, tức là cơn khát quá mức. Trong bệnh tiểu đường thì cơ thể mất thêm nước qua đường tiểu nên cảm giác khát mạnh lên; dù người ta có uống vào thì khô miệng và cơn khát vẫn quay lại sau một lúc ngắn. Nó nằm trong các dấu hiệu sớm.(khát nước quá mức, khát liên tục, uống rất nhiều nước)
- Khẩu phần
- Là lượng thức ăn hay đồ uống dùng trong một lần. Cỡ suất ghi trên bao bì là lượng quy chiếu do nhà sản xuất định ra và không nhất thiết bằng với lượng mà người ta đặt lên đĩa của mình; chỗ khác nhau ấy là một trong những nguyên do hay gặp nhất khiến thông tin carbohydrate trên nhãn bị đọc sai.(cỡ suất ăn, lượng một suất, lượng trên đĩa)
- Khoảng mục tiêu và thời gian trong khoảng
- Khoảng mục tiêu là khoảng giá trị được định bằng một giới hạn dưới và một giới hạn trên, là chỗ mà đường huyết của một người được mong giữ ở trong; các giới hạn ấy được đặt riêng theo tuổi, theo việc có thai hay không và theo các bệnh đi kèm. Còn thời gian trong khoảng là tỷ lệ thời gian mà dữ liệu đo nằm trong khoảng ấy.(TIR, thời gian trong khoảng, time in range, khoảng giá trị mong muốn)
- Khoảng tham chiếu
- Là dải in bên cạnh kết quả trên tờ xét nghiệm; nó có được bằng cách xếp các phép đo của một nhóm được coi là khỏe rồi cắt bỏ hai đầu. Một kết quả rơi ngoài dải ấy báo một vị trí, chứ không báo một căn bệnh. Ngưỡng quyết định thì khác: cái định ra nó là dự đoán về quyết định y khoa ở bên kia ngưỡng. Dải kia trượt theo phòng xét nghiệm, ngưỡng thì không.(khoảng tham chiếu của phòng xét nghiệm, phân bố ở người khỏe)Đọc tờ kết quả xét nghiệm thế nào? →
- Kiệt sức vì tiểu đường
- Là cảnh được tả theo ba chiều, nảy ra trước những đòi hỏi không dứt của việc chăm sóc tiểu đường: sự kiệt sức, tức là không còn năng lượng để giữ việc chăm sóc; sự rời xa, tức là lùi khỏi việc chăm sóc và khỏi cái danh tính bệnh tật; và sự mất nắm giữ. Nó gắn chặt với sự căng thẳng vì tiểu đường, và chiều phân biệt hai thứ là sự rời xa.(sự kiệt sức, rời xa việc chăm sóc, thờ ơ với việc chăm sóc, mất nắm giữ)
- Kim chích máu
- Kim chích máu là chiếc kim vô trùng đầu mảnh, dùng một lần, giúp lấy một lượng máu rất nhỏ từ đầu ngón tay. Nó thường được lắp vào một bút có lò xo; bộ bút đâm đầu kim xuống một độ sâu định trước để tạo ra giọt máu. Nó được làm ra cho một lần dùng: dùng lại thì đầu kim cùn đi và sinh nguy cơ lây nhiễm.(kim chích đầu ngón tay, kim lấy máu, lưỡi chích)Đo đường huyết tại nhà thế nào? →
L
- LADA (tiểu đường tự miễn tiềm ẩn ở người lớn)
- Thể tiểu đường bắt đầu ở tuổi trưởng thành, có gốc tự miễn nhưng vẻ ngoài lúc đầu giống tiểu đường tuýp 2 nên hay bị lẫn với nó. Việc tạo insulin giảm đi chậm rãi qua nhiều tháng hoặc nhiều năm; nét phân biệt của nó là có kháng thể kháng tiểu đảo trong máu.(tiểu đường tự miễn tiềm ẩn, tiểu đường tuýp 1 diễn tiến chậm, tiểu đường tuýp 1,5, tiểu đường tự miễn ở người lớn)
M
- Mã hiệu chuẩn của máy
- Mã hiệu chuẩn là con số, con chip hay que dùng ở vài loại máy đo để báo cho máy biết mức đo riêng của lô sản xuất của hộp que. Máy lấy thông tin ấy mà tính tới độ nhạy của que. Nếu mã và hộp không khớp thì kết quả có thể lệch khỏi giá trị thật; một phần các máy đời mới được làm ra để không cần mã nữa.(mã máy, mã hộp que, chip mã, máy không cần mã)
- Máy đo đường huyết
- Máy đo đường huyết là thiết bị nhỏ cầm tay, đo mức đường ở ngay lúc ấy từ một giọt máu. Nó đánh giá mẫu máu nhỏ lên một que dùng một lần; phần lớn máy ngày nay làm việc ấy bằng phương pháp điện hóa và hiện kết quả lên màn hình trong vài giây. Đây là công cụ phổ biến nhất của việc tự theo dõi tại nhà, và nó cho một giá trị tại một thời điểm.(máy đo đường, máy thử đường huyết, máy đo glucose, máy đo)Đo đường huyết tại nhà thế nào? →
- Mất cảm nhận hạ đường huyết
- Là tình trạng mà những dấu báo cơ thể vẫn đưa ra khi đường huyết tụt, tức là run, toát mồ hôi và tim đập mạnh, không được cảm thấy hoặc chỉ được nhận ra rất muộn. Vì các cú tụt xảy ra thường xuyên làm cùn đi cái đáp ứng báo động ấy nên cú tụt phần nhiều chỉ được nhận ra qua phép đo.(hạ đường huyết lặng lẽ, tụt đường không triệu chứng, không cảm được cú tụt, suy giảm cảm nhận hạ đường, cùn mất cảm nhận, cú tụt không báo trước)Làm sao nhận biết hạ đường huyết? →
- Metformin
- Là một hoạt chất thuộc nhóm biguanide. Nó làm giảm lượng glucose mà gan trả vào máu và làm tăng độ nhạy của cơ với insulin. Trong tiểu đường tuýp 2 thì nó hay được dùng ở bậc đầu tiên; vì nó không thúc việc tiết insulin nên khi dùng một mình thì nó ít có khuynh hướng đẩy đường huyết xuống dưới đích, và nó không làm tăng cân.(biguanide)
- mg/dL
- mg/dL là một đơn vị đo dùng trong kết quả đường huyết, và nó nói rằng trong một decilit máu có bao nhiêu miligram glucose. Ở một phần thế giới thì các tờ kết quả được ghi bằng đơn vị này. Cùng một kết quả khi đổi sang mmol/L thì nhỏ hơn khoảng mười tám lần; vì thế các con số ở hai đơn vị trông chẳng giống nhau.(miligram trên decilit, mg/dl)
- mmol/L
- mmol/L là một đơn vị đo dùng trong kết quả đường huyết, và nó nói rằng trong một lít máu có bao nhiêu milimol glucose, tức là lượng chất. Ở nhiều nước thì đây là chuẩn ghi kết quả. Cùng một kết quả khi đổi sang mg/dL thì lớn hơn khoảng mười tám lần; một con số đưa ra mà không kèm đơn vị thì có thể bị đọc sai.(milimol trên lít, mmol/l)
N
- Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống (OGTT)
- Là xét nghiệm trong đó người ta đo lúc đói, rồi cho uống một lượng nước đường chuẩn, rồi đo lại máu theo những khoảng thời gian định trước. Nó cho thấy từng bước cách cơ thể đáp lại một tải đường đột ngột. Đây là một trong các cách được dùng khi đánh giá tiền tiểu đường, tiểu đường và tình trạng đường cao xuất hiện trong thai kỳ.(nghiệm pháp dung nạp glucose, test uống đường, nghiệm pháp tải đường)
- Nhãn dinh dưỡng
- Là bảng in trên thực phẩm đóng gói, cho biết lượng năng lượng, chất béo, carbohydrate, phần đường trong carbohydrate, chất xơ, chất đạm và muối. Các giá trị thường được đưa ra cho 100 gam, 100 mililit hoặc một khẩu phần. Về mặt đường huyết thì thứ quyết định không phải riêng dòng đường, mà là tổng lượng carbohydrate.(nhãn thành phần dinh dưỡng, bảng dinh dưỡng, nhãn thực phẩm)
- Nhiễm toan ceton do tiểu đường (DKA)
- Là cảnh cấp cứu trong đó ceton tích lại và làm máu chua đi, do các tế bào đốt mỡ thay cho đường khi insulin thiếu đi một cách nghiêm trọng. Đường huyết lên cao, buồn nôn, nôn, đau bụng, thở sâu và nhanh cùng hơi thở có mùi trái cây là các dấu điển hình của nó.(DKA, nhiễm toan ceton, toan ceton)
P
- Phác đồ nền và theo bữa
- Là cách điều trị trong đó nhu cầu insulin nền chạy suốt ngày được đáp bằng một insulin tác dụng dài, còn mức dâng do các bữa ăn tạo ra thì được đáp bằng insulin tác dụng nhanh tiêm riêng ở mỗi bữa. Nó nhắm tới việc bắt chước nhịp tiết của một tuyến tụy khỏe mạnh.(điều trị insulin tích cực, insulin nhiều mũi trong ngày, phác đồ basal bolus)
- Phản ứng tự miễn
- Là việc hệ miễn dịch nhắm vào chính mô của cơ thể thay vì nhắm vào một mối đe dọa từ bên ngoài. Trong tiểu đường tuýp 1 thì đích của nó là các tế bào tạo insulin của tuyến tụy. Quá trình này thường đi rất lặng lẽ; nó có thể đã bắt đầu từ nhiều năm trước khi các triệu chứng hiện ra.(tính tự miễn, quá trình tự miễn, miễn dịch quay lại đánh chính mình)
- Phì đại mô mỡ chỗ tiêm
- Là chỗ gồ lên sờ thấy được bằng tay, hình thành khi mô mỡ dưới da dày lên và chai lại do insulin cứ được tiêm đi tiêm lại vào cùng một vùng. Vì việc hấp thu insulin từ vùng ấy có thể trở nên không đoán trước được nên đường huyết có thể đi khác với điều vẫn chờ đợi.(chỗ tiêm bị chai, mô mỡ dày lên)
Q
- Que thử
- Que thử là dải đo dùng một lần, cắm vào máy đo và hút lấy giọt máu. Lớp men trên nó phản ứng với glucose trong máu, rồi tín hiệu điện nhỏ sinh ra được máy chuyển thành một con số. Nó nhạy với độ ẩm, nhiệt độ và hạn dùng; mỗi máy chỉ chạy được với đúng loại que hợp với nó.(que thử đường huyết, que đo, que thử glucose, que)Đo đường huyết tại nhà thế nào? →
- Quy tắc 15-15
- Là tên của cách làm giản dị vẫn được dạy rộng rãi khi cần sửa một cú tụt đường huyết: chừng 15 gam carbohydrate hấp thu nhanh, rồi chờ 15 phút, rồi đo lại. Các con số trong tên của nó kể số gam carbohydrate và số phút chờ, chứ không kể giá trị đường huyết.(quy tắc 15, quy tắc mười lăm mười lăm)
- Quy tắc cho ngày ốm
- Là kế hoạch dựng sẵn, nói rõ việc theo dõi tiểu đường đổi đi thế nào trong những quãng có bệnh xen vào như nhiễm trùng, sốt hay nôn. Nó thường gồm các mục như đo dày hơn, kiểm tra ceton, uống đủ nước, không bỏ insulin và tạm ngưng vài loại thuốc.(kế hoạch cho ngày có bệnh, quy tắc sick day, tiểu đường trong những ngày ốm)
S
- Sulfonylurea
- Là nhóm thuốc thúc các tế bào beta trong tuyến tụy tiết ra nhiều insulin hơn; glimepiride, gliclazide và glibenclamide đều thuộc nhóm này. Vì tác dụng của nó không phụ thuộc vào mức đường huyết ở ngay lúc ấy nên việc đường huyết tụt xuống dưới khoảng mục tiêu và việc tăng cân ở nhóm này hay gặp hơn so với các nhóm khác.(các sulfonylurea, glimepiride, gliclazide)
- Sự căng thẳng vì tiểu đường
- Là cảm giác kiệt sức, ngột ngạt và mất hy vọng nảy ra trước những đòi hỏi không bao giờ dứt của việc sống chung với tiểu đường. Việc đo, việc ăn uống và nếp dùng thuốc đòi phải liên tục, nỗi lo về biến chứng hay cảm giác không đạt được các đích đều nuôi nó. Nó được định nghĩa tách khỏi trầm cảm, mà hai thứ cũng có thể cùng có.(mệt mỏi vì tiểu đường, gánh nặng tinh thần do tiểu đường)
T
- Tăng đường huyết
- Là tình trạng đường huyết lên trên khoảng được nhắm tới. Những dấu như uống nhiều nước, đi tiểu nhiều lần, khô miệng, mệt mỏi và nhìn mờ có thể đi kèm. Insulin không đủ, ít vận động, nhiễm trùng, căng thẳng và lượng carbohydrate nhiều hơn dự tính là các nguyên nhân hay gặp.(đường huyết cao, đường huyết lên cao, đường cao)
- Tăng huyết áp áo choàng trắng
- Là tên của cảnh trong đó huyết áp đo lúc khám thì cao, còn các phép đo ở nhà trải qua nhiều ngày thì bình thường. Cái ngược lại của nó là tăng huyết áp ẩn giấu: cảnh trông bình thường lúc khám mà đọc ở nhà lại cao. Chỉ một lần đo ở nhà khác với lần đo lúc khám thì chưa dựng nên thứ nào; sự phân biệt hiện ra khi nhiều ngày cùng chỉ một hướng.(áo choàng trắng, huyết áp cao khi đi khám, tăng huyết áp phòng khám)
- Test sợi đơn
- Là một cách khám giản dị, đo xem cảm giác chạm có tính bảo vệ ở lòng bàn chân còn giữ được hay không. Sợi nylon dẻo chuẩn nặng 10 gam được ấn nhẹ vào những điểm nhất định, vừa đủ để nó cong lại, rồi người khám xem cái chạm ấy có được cảm thấy hay không. Không cảm thấy nó là dấu của tổn thương thần kinh làm tăng nguy cơ loét bàn chân.(test cảm giác bàn chân, test cảm giác bảo vệ, test sợi đơn 10 g, test Semmes-Weinstein)
- Tế bào beta
- Loại tế bào nằm trong các tiểu đảo Langerhans của tuyến tụy, tạo ra insulin và thả nó vào máu khi đường huyết lên cao. Trong tiểu đường tuýp 1 thì các tế bào này bị hệ miễn dịch phá đi; trong tiểu đường tuýp 2 thì chức năng và số lượng của chúng cứ giảm dần qua nhiều năm.(tế bào bêta, các tế bào beta, tế bào β, tế bào tiểu đảo)
- Theo dõi glucose liên tục (CGM)
- Theo dõi glucose liên tục là cách đo glucose trong dịch mô suốt cả ngày, theo những khoảng đều đặn, bằng một cảm biến nhỏ đặt dưới da. Khác với các lần đo rời rạc, nó cho thấy hướng và tốc độ của sự thay đổi, và tạo ra dữ liệu liên tục kể cả ban đêm. Hết một thời gian dùng nhất định thì cảm biến được thay bằng cái mới.(CGM, theo dõi đường huyết liên tục, đo đường bằng cảm biến, cảm biến gắn ở cánh tay)
- Thuốc đồng vận thụ thể GLP-1
- Là nhóm thuốc bắt chước tác dụng của hormone GLP-1 mà ruột tiết ra theo bữa ăn. Nó làm tăng việc tiết insulin theo bữa, làm giảm glucagon, làm chậm việc rỗng dạ dày và làm mạnh cảm giác no. Semaglutide, liraglutide và dulaglutide thuộc nhóm này; việc ăn kém ngon miệng và việc sụt cân thì hay gặp.(chất tương tự GLP-1, thuốc bắt chước incretin, mũi tiêm giảm cân, semaglutide)
- Thuốc hạ đường huyết đường uống
- Là tên chung của các thuốc uống giúp hạ đường huyết, và thường được dùng trong tiểu đường tuýp 2. Các nhóm của nó làm việc theo những đường khác nhau: có nhóm làm tăng việc tiết insulin, có nhóm làm giảm đề kháng insulin, có nhóm đổi việc thải đường qua nước tiểu hay việc hấp thu đường từ ruột.(thuốc tiểu đường dạng uống, thuốc viên tiểu đường, viên uống hạ đường)Thuốc tiểu đường chia thành mấy nhóm? →
- Thuốc ức chế DPP-4
- Là nhóm thuốc làm chậm men DPP-4, tức là men bẻ các hormone incretin. Nhờ vậy GLP-1 tiết ra sau bữa ăn còn tác dụng lâu hơn; việc tiết insulin theo bữa ăn tăng lên, còn việc tiết glucagon thì giảm. Sitagliptin, vildagliptin và linagliptin thuộc nhóm này; với cân nặng thì nó thường không có tác dụng gì.(gliptin, các gliptin, sitagliptin)Thuốc tiểu đường chia thành mấy nhóm? →
- Thuốc ức chế SGLT-2
- Là nhóm thuốc chặn protein vận chuyển thu lại glucose ở các ống thận; phần glucose không được thu lại thì thải ra theo nước tiểu. Bên cạnh đường huyết thì cân nặng và huyết áp cũng xuống nhẹ. Các tác dụng bảo vệ trong suy tim và bệnh thận đã được cho thấy; dapagliflozin và empagliflozin thuộc nhóm này.(gliflozin, các gliflozin, dapagliflozin, empagliflozin)Thuốc tiểu đường chia thành mấy nhóm? →
- Tiêm glucagon
- Là dạng đưa từ bên ngoài vào của hormone glucagon, thứ làm cho kho đường trong gan được thả vào máu, dùng trong những cú tụt đường huyết nặng tới mức không đưa được gì qua đường miệng. Nó có các dạng bơm tiêm và bút nạp sẵn; còn có cả dạng bột đưa qua đường mũi.(mũi glucagon, glucagon cấp cứu, mũi tiêm cứu)
- Tiền tiểu đường
- Tình trạng trung gian trong đó đường huyết đã lên trên khoảng được coi là bình thường, nhưng chưa tới ngưỡng chẩn đoán tiểu đường. Tự nó không tạo triệu chứng, phần lớn được thấy trong xét nghiệm máu. Nó không tiến tới tiểu đường ở tất cả mọi người; các nghiên cứu đã cho thấy nó lùi lại được khi nếp sống đổi đi.(tiểu đường tiềm ẩn, đường huyết ở ranh giới, rối loạn dung nạp glucose)
- Tiểu đường thai kỳ
- Tình trạng đường huyết cao được phát hiện lần đầu, thường là trong nửa sau của thai kỳ, và không giải thích được bằng một bệnh tiểu đường đã biết từ trước khi mang thai. Nó được gắn với việc các hormone của nhau thai làm yếu tác dụng của insulin, và phần lớn lui đi sau khi sinh. Khả năng mắc tiểu đường tuýp 2 trong những năm sau đó tăng lên.(tiểu đường khi mang thai, đường huyết cao trong thai kỳ)
- Tiểu đường tuýp 1
- Thể tiểu đường trong đó cơ thể mất khả năng tạo insulin của chính mình, do hệ miễn dịch phá các tế bào tạo insulin trong tuyến tụy. Nó phần lớn bắt đầu ở tuổi nhỏ hoặc tuổi trẻ, nhưng có thể xuất hiện ở bất cứ tuổi nào. Nó đòi hỏi việc đưa insulin từ bên ngoài vào suốt đời.(tiểu đường phụ thuộc insulin, tiểu đường vị thành niên, tiểu đường ở trẻ em)
- Tiểu đường tuýp 2
- Thể tiểu đường phổ biến nhất, phát triển khi đề kháng insulin gặp với việc tuyến tụy không đáp ứng nổi nhu cầu insulin đang tăng lên. Nó cắm rễ âm thầm và có thể không cho triệu chứng nào trong thời gian dài. Yếu tố di truyền, cân nặng, cách ăn uống và việc ít vận động cùng góp vào cảnh này.(tiểu đường người lớn, tiểu đường không phụ thuộc insulin)
- Tiểu nhiều
- Tiểu nhiều nghĩa là lượng nước tiểu mà thận tạo ra vượt lên rõ rệt trên mức thường ngày. Trong bệnh tiểu đường thì phần đường dư đọng trong máu đi sang nước tiểu và kéo nước theo cùng; vì thế cả thể tích nước tiểu lẫn số lần đi vệ sinh đều tăng lên. Nó nằm trong số các dấu được nhận ra sớm nhất.(đi tiểu nhiều lần, lượng nước tiểu nhiều, hay phải đi vệ sinh)
- Tuyến tụy
- Cơ quan tiết nằm sau dạ dày, cùng lúc làm hai việc khác nhau. Một mặt nó tạo các men tiêu hóa rồi đưa xuống ruột; mặt khác, trong những cụm tế bào gọi là tiểu đảo Langerhans, nó tạo các hormone như insulin và glucagon rồi thả thẳng vào máu.(tụy, tuyến tụy tạng)Insulin là gì và có tác dụng gì? →
Nguồn
- American Diabetes Association Professional Practice Committee. 2. Diagnosis and Classification of Diabetes: Standards of Care in Diabetes—2026. Diabetes Care. 2026;49(Suppl 1):S27–S49. doi:10.2337/dc26-S002
- American Diabetes Association Professional Practice Committee. 6. Glycemic Goals, Hypoglycemia, and Hyperglycemic Crises: Standards of Care in Diabetes—2026. Diabetes Care. 2026;49(Supplement_1):S132–S149. doi:10.2337/dc26-S006
- American Diabetes Association Professional Practice Committee. 9. Pharmacologic Approaches to Glycemic Treatment: Standards of Care in Diabetes—2026. Diabetes Care. 2026;49(Suppl 1):S183–S215. doi:10.2337/dc26-S009
- World Health Organization. Classification of diabetes mellitus. Geneva: World Health Organization; 2019. ISBN 978-92-4-151570-2.
- World Health Organization, International Diabetes Federation. Definition and diagnosis of diabetes mellitus and intermediate hyperglycaemia: report of a WHO/IDF consultation. Geneva: World Health Organization; 2006. ISBN 978-92-4-159493-6.
- Thota S, Akbar A. Insulin. In: StatPearls [Internet]. Treasure Island (FL): StatPearls Publishing; güncelleme 10 Temmuz 2023.
- World Health Organization. Carbohydrate intake for adults and children: WHO guideline. Geneva: World Health Organization; 2023. ISBN 978-92-4-007359-3.
Bài này chỉ mang tính thông tin; nó không phải chẩn đoán, không phải chỉ định điều trị hay liều dùng. Quyết định về việc điều trị của bạn luôn là việc bàn cùng bác sĩ.