Đời sống hằng ngày
Cân nặng và thói quen
4 bài
Giữa cân nặng và tiểu đường có gì?Thứ định đoạt không phải con số trên cân, mà là chỗ mỡ dồn lại trong cơ thể; ở tiểu đường tuýp 2, mỡ ngấm vào gan và tụy làm hỏng việc của insulin. Vì vậy bức tranh của hai người cùng cân nặng không giống nhau. Cân nặng là một yếu tố mạnh, nhưng không phải yếu tố làm việc một mình. · 3 phútĐọc tiếp
Ở tiểu đường tuýp 2, mô mỡ không cư xử như nhau. Chỗ nào cũng khác. Mỡ dưới da thì tương đối nằm yên; còn mỡ đóng giữa các tạng trong ổ bụng thì trút vào một chỗ hoàn toàn khác. Các acid béo tự do và những tín hiệu viêm mà lớp mỡ ấy thả ra đổ vào cái mạch chở máu thẳng tới gan, và tới cơ quan ấy ở dạng đã cô đặc. Gánh càng lớn thì gan càng ít nghe thấy tiếng của insulin; suốt đêm nó không ngừng thả đường vào máu, và vì thế giá trị đo buổi sáng ra cao.
Mỡ dồn trong gan thì không ở lại đó. Nó đi tiếp. Một phần được trả ngược vào máu dưới dạng những gói mỡ, rồi đóng vào bên trong tụy và tản ra giữa các tế bào làm insulin. Những tế bào bị mỡ vây quanh này mất khả năng đáp lại nhanh ngay khi thức ăn tới. Thế là hai cái vòng nuôi lẫn nhau được dựng lên. Vòng của gan làm vòng của tụy lớn lên, và vòng của tụy lại làm vòng của gan lớn lên. Hai cơ quan không theo dõi nhau từ xa; sự trao đổi giữa chúng quay liên tục qua đường máu.
Các vòng cũng quay ngược lại được. Khi thâm hụt năng lượng còn kéo dài thì mỡ trong gan bắt đầu tan trong vài ngày, còn tụy thì cần nhiều tháng mới hồi lại. Việc tốt lên cũng theo đúng thứ tự ấy. Trước hết bức tranh ở phía lúc đói mềm đi, còn đáp ứng sau bữa thì hồi lại muộn hơn. Các hướng dẫn lớn viết rằng ngay cả việc mất một phần nhỏ cân nặng ban đầu cũng chạm tới thế cân bằng của đường. Ở một mức mất lớn hơn thì các giá trị ra khỏi khoảng tiểu đường mà không cần thuốc hạ đường, và ở đó một thời gian. Tình trạng này gọi là lui bệnh; ai lui được bao lâu thì một bài riêng bàn tới.
Bức tranh có một khuôn mặt ít được biết hơn. Tuýp 2 cũng xuất hiện ở những người trông gầy, và một phần đáng kể người mới được chẩn đoán nằm trong khoảng cân nặng bình thường. Ý niệm ngưỡng mỡ cá nhân sinh ra từ đây. Mỗi cơ thể có một giới hạn mà tới đó nó còn cất mỡ được một cách vô hại, và giới hạn ấy rất khác nhau giữa người này với người kia. Người vượt giới hạn của mình thì chất mỡ lên các cơ quan, dù nhìn từ ngoài vẫn thấy mảnh. Còn ở một người thừa cân mà chưa bao giờ vượt ngưỡng của mình thì thế cân bằng của đường đứng yên suốt nhiều năm. Cái ngưỡng ấy nằm ở đâu thì chỉ khi bị vượt qua mới rõ.
Mỡ đang đứng ở đâu thì không nhìn ra được. Không nhìn thẳng. Mỡ đóng trong ổ bụng không tự lộ mình trên cân; đó là lý do người ta theo dõi cả những số đo cơ thể như vòng eo bên cạnh cân nặng. Cái cân cho ta cái tổng, còn số đo vòng eo chở một dấu hiệu về việc cái tổng ấy đã tản đi đâu. Còn hình ảnh chắc chắn của mỡ bên trong gan và tụy thì chỉ các phương pháp chẩn đoán hình ảnh mới cho ra.
Tuổi, di truyền và mức vận động cũng nằm trong phương trình ấy. Corticosteroid và vài thuốc chống loạn thần được kể trong số các nhóm thuốc đã biết là ảnh hưởng tới cân nặng và tới thế cân bằng của đường. Giấc ngủ ngắn cũng làm yếu đáp ứng insulin, và nó làm điều đó mà khối mỡ không đổi chút nào. Ở tiểu đường tuýp 1 thì cơ chế bắt đầu từ một chỗ hoàn toàn khác, từ hệ miễn dịch, và nó nằm ngoài những cái vòng này. Coi cân nặng là thủ phạm duy nhất thì không đủ để giải thích chuyện đang xảy ra; sự trao đổi quay giữa gan và tụy vẫn tiếp tục ở chỗ mà cái cân không cho thấy.
Vì sao giảm cân khó đến vậy?Phần lớn cái khó thì nằm ngoài ý chí: cơ thể chống lại việc giảm cân từ hai phía. Năng lượng tiêu đi tụt xuống dưới mức người ta chờ, còn các tín hiệu đói thì mạnh lên. Sức chống ấy không dừng ở vài tuần. Trong những nghiên cứu có đo, ngay cả sau một năm người ta vẫn không thấy nó về nếp cũ. · 2 phútĐọc tiếp
Trước hết là phía năng lượng. Cân càng giảm thì khối phải mang càng nhỏ, và năng lượng tiêu lúc nghỉ tự nhiên tụt xuống; phần ấy là phần người ta chờ. Phần không chờ là việc nó tụt xuống dưới cả mức tính được. Độ lớn thô thì như sau. Với mỗi cân giảm đi, chi tiêu hằng ngày lui chừng hai tới ba mươi calo, còn cơn thèm ăn thì tăng chừng một trăm. Người ta cũng đã báo về một sự thích nghi sâu hơn nhiều, đo thấy còn kéo dài cả nhiều năm sau. Phát hiện ấy tới từ một nhóm nhỏ tham gia một can thiệp ở mức cực đoan. Việc cái cân sau vài tháng cứ mắc lại ở cùng con số thì phần lớn có chỗ hụt này đứng sau.
Phía nội tiết tố cũng làm việc về cùng hướng. Tín hiệu no thả ra từ mô mỡ giảm đi, tín hiệu đói tới từ dạ dày thì lên, và các tín hiệu no vào cuộc sau bữa ăn thì yếu đi. Khi đo lại chính những người ấy sau một năm thì bức tranh vẫn chưa về điểm khởi đầu; cảm giác đói họ báo lại cũng còn cao. Một cơ thể đã giảm cân sinh ra một cơn đói mạnh hơn so với chính nó lúc chưa giảm. Cái ý muốn quay lại bếp vào buổi tối, khi bữa ăn mới xong được một tiếng, chính là tương ứng hằng ngày của điều đó. Nghĩa là một thứ đo được. Cảm giác tội lỗi không thêm gì lên trên cơ chế này, nó chỉ làm việc nặng thêm.
Ở người tiểu đường thì còn một lớp nữa. Một phần các họ thuốc hạ đường kéo cân lên, một phần kéo xuống; họ nào đứng ở chiều nào thì một bài riêng bàn tới. Lớp còn lại là chính đường. Nhu cầu ăn hiện ra khi tiến gần ngưỡng tụt không phải thứ để tranh luận với ý chí, mà là một sự kiện sinh lý thẳng thừng. Đợt sóng ấy khác với cơn đói thường. Nó tới đột ngột, nó không biết tới giờ ăn, và nó lui đi ít lâu sau khi người ta ăn gì đó. Bản kê từng dấu hiệu của nó thì không nằm trên trang này, mà ở mục “Làm sao nhận biết hạ đường huyết?”. Một đợt sóng như thế tới hai lần trong ngày thì tự nó viết lại kế hoạch của ngày ấy.
Giữ được số cân đã giảm là một việc khác với việc giảm. Các nghiên cứu xem giai đoạn giữ như một chuyện riêng, và kể ra những hành vi được nhắc cùng nó một cách nhất quán nhất. Cân và ghi lại đều đặn, những bữa có khẩu phần xác định, và việc theo dõi được duy trì cùng một người hay một nhóm. Việc của giai đoạn này không phải tới một cái đích, mà là giữ cho một nếp đứng vững. Để cái thắt lưng còn ở đúng lỗ của một năm trước thì cần một thứ công sức khác với công sức bỏ ra lúc giảm cân. Số cân lấy lại không phải bằng chứng của một tính cách yếu. Nó là khuôn mặt nhìn thấy được của một xu hướng đã được chờ đợi.
Thảo dược hạ đường có thật sự hiệu quả?Với những cây được nói là hạ đường thì ta không có một câu trả lời rõ, vì các nghiên cứu không ăn khớp nhau. Về quế, crom, hồ lô ba và berberin, có bài tổng quan báo một mức cải thiện nhỏ, có bài không thấy khác biệt. Còn vấn đề chính nằm chỗ khác: việc quản lý các sản phẩm này không giống với thuốc. · 2 phútĐọc tiếp
Bức tranh bằng chứng thì tản mát. Các bài tổng quan về quế không ăn khớp nhau. Một bài tổng quan hệ thống cũ gom chừng mười nghiên cứu đã không tìm thấy khác biệt đáng kể ở các chỉ số đường; còn một bài mới hơn, gom nhiều nghiên cứu hơn, thì báo một mức cải thiện nhỏ. Với crom thì kết quả văng từ nghiên cứu này sang nghiên cứu khác. Với berberin và hồ lô ba thì có những bài báo về tác dụng, nhưng với ít người tham gia và giới hạn trong vài tuần. Vấn đề mỗi lần đều dồn về cùng một chỗ. Nhóm nhỏ, thời gian ngắn, và những sản phẩm không giống nhau.
Một lý do của chuyện này là thế này. Tên của một cây không phải một chuẩn. Chiết xuất dùng trong một thử nghiệm được lấy từ một bộ phận nhất định của cây bằng một phương pháp nhất định; còn thứ bột trên kệ siêu thị là sản phẩm của một quy trình khác. Thời điểm thu hái, việc sấy và việc xay cũng làm xê dịch thứ bên trong. Vì vậy một kết quả thử nghiệm thuận lợi không chuyển sang được một cái hộp khác mang cùng tên. Nhìn cái tên rồi chờ cùng một kết quả thì ở đây sẽ đánh lừa.
- Tương tác: vài loại cây dùng chung với một thuốc hạ đường sẽ làm tổng tác dụng lớn lên; chi tiết của mối quan hệ này thì một bài riêng về việc các thuốc ảnh hưởng lẫn nhau mở ra. Cú tụt tự lộ mình bằng mồ hôi, run, tim đập nhanh, cơn đói đột ngột và sự mất tập trung; nếu bức tranh ấy dày lên sau khi thêm một sản phẩm mới thì nguyên nhân có thể chính là sản phẩm đó.
- Quản lý: ở phần lớn nơi thì thực phẩm bổ sung không được quản như thuốc. Trước khi lên kệ, người ta không đòi bằng chứng về tác dụng và về an toàn, còn thành phần và độ tinh khiết thì dao động từ lô này sang lô khác. Một cuộc rà soát gom các sản phẩm thảo dược bán như thuốc hạ đường đã tìm thấy trong phần lớn các hộp một hoạt chất tân dược không hề ghi trên nhãn. Thứ hay gặp nhất thuộc nhóm sulfonylurea, bên cạnh nó là một thuốc hạ đường cũ đã bị rút khỏi thị trường vì lý do an toàn. Ở hai phần ba số người dùng những sản phẩm ấy, người ta thấy có tổn hại, và dạng hay gặp nhất là hạ đường huyết.
- Trì hoãn: một sản phẩm được cho là có tác dụng có thể thế chỗ việc điều trị thật. Vì trong quãng ấy không có phép đo nào được làm nên những giá trị đang lên không vào sổ; tình hình chỉ hiện ra ở lần xét nghiệm sau.
Thay lại một vitamin hay một khoáng chất đã được chứng minh là thiếu thì là chuyện hoàn toàn khác. Ví dụ nổi tiếng nhất là metformin. Dùng lâu thì nó được gắn với việc mức B12 tụt xuống, và các hướng dẫn đặt lên bàn việc đo mức ấy theo từng đợt ở nhóm này. Lấp một chỗ thiếu đã được xác định thì không phải cùng một việc với đứng trước kệ hàng và chọn một sản phẩm với hy vọng hạ đường.
Ở đây thì bằng chứng và sự quản lý thiếu về cùng một hướng. Bằng chứng mà người ta đòi ở một thuốc thì không đòi ở một sản phẩm thảo dược mang cùng lời tuyên bố ấy. Câu chữ trên hộp không tới từ một nghiên cứu, mà tới từ một quyết định tiếp thị. Và thước đo duy nhất mà người cầm cái hộp lên nhìn thấy cũng chính là câu chữ đó.
Nhịn đói lâu ở người tiểu đường thì sao?Nhịn đói lâu chuyển cơ thể sang nhiên liệu dự phòng, và ở người tiểu đường thì bước chuyển ấy đi tới đâu do cách điều trị của người ấy định ra. Insulin, tình trạng thận và những sự kiện trong quá khứ chia bức tranh ra. Khi cùng với việc ăn thì việc uống cũng bị cắt, một gánh thứ hai xuất hiện. · 2 phútĐọc tiếp
Nhịn đói lâu không phải tên của một tình huống duy nhất. Việc nhịn ăn theo tín ngưỡng, những nếp nhịn ăn gián đoạn có kế hoạch, và những giờ đói phải chờ trước một thủ thuật đều bắt đầu vì những lý do khác nhau. Lý do là gì đi nữa thì thứ tự mở cửa của cơ thể vẫn thế. Trước hết là kho của gan, rồi tới việc làm glucose mới. Thứ tự ấy thì bài về việc bỏ bữa cho biết chi tiết.
Lằn ranh bắt đầu ở đây. Nếu tác dụng của insulin đủ thì bước chuyển đi có nếp; nếu không đủ thì việc phân giải mỡ không hãm được và ceton dồn lại. Ceton hình thành ra sao và khi nào nó lên bàn thì bài về ceton kể. Nếu việc dồn lại còn tiếp thì bức tranh nhìn từ ngoài cũng đổi. Buồn nôn, nôn, đau bụng, thở sâu dần và nhanh dần, một sự rã rời rõ rệt. Tên của bức tranh này là nhiễm toan ceton.
Nguy cơ không chia đều cho mọi người. Cú tụt đường tự báo mình bằng mồ hôi, tay run, tim đập nhanh, một cơn đói đột ngột và sự chú ý tản đi. Lời cảnh báo không phải lúc nào cũng tới với cùng một sức. Khi các cú tụt lặp lại, và trong lúc ngủ, thì những dấu ấy yếu đi, và thứ nhận ra đầu tiên thành ra thẳng là sự mụ mẫm. Những nhóm mà gánh nặng hơn thì đã rõ:
- Người dùng insulin hay một thuốc gây tiết insulin; thuốc vẫn giữ tác dụng, còn carbohydrate thì không tới.
- Người trước đây từng có một cú tụt nặng, hoặc người không còn cảm được lời cảnh báo.
- Người dùng ức chế SGLT-2; khi nhịn lâu thì ceton có thể dồn lại ngay cả khi phép đo không lên, và dạng ấy thì một bài riêng bàn tới.
- Người có tiền sử nhiễm toan ceton và người có đường cao đã lâu.
- Người có bệnh thận tiến triển, phụ nữ mang thai và người đang cho con bú.
Trục về dịch thì đi riêng. Trong một lần nhịn mà chỉ việc ăn bị cắt thì trục này không vào cuộc; còn ở những lần nhịn mà việc uống cũng bị cắt thì sự mất mát dồn lại mà không ai nhận ra. Máu đặc lại, nước tiểu ít đi, và vào một ngày nóng thì bức tranh dựng lên nhanh hơn nhiều. Những giờ cuối của một lần nhịn dài rơi đúng vào khoảnh khắc mà cả dịch lẫn năng lượng đều xuống đáy; hai trục bị căng cùng lúc.
Cái khung chung gói trong một câu: trước hết là đánh giá nguy cơ, rồi mới tới kế hoạch. Ở một lần nhịn có kế hoạch thì việc đánh giá được làm từ nhiều tuần trước, và các thuốc đang dùng, những sự kiện đã qua, những bệnh đi kèm đều được cân cùng nhau. Kết quả không ra một tiếng có hay không duy nhất. Người này được xem là nguy cơ thấp, người kia là cao; ở giữa còn một bậc nữa, nơi sự an toàn vẫn chưa rõ. Ở lần nhịn trước thủ thuật thì thời gian ngắn, kế hoạch do chính ê kíp làm thủ thuật dựng, và nếp thuốc lại được xem lại. Cách chỉnh nào hợp với ai thì ê kíp chăm sóc biết hồ sơ của người ấy sẽ định ra.
Bài này chỉ mang tính thông tin; nó không phải chẩn đoán, không phải chỉ định điều trị hay liều dùng. Quyết định về việc điều trị của bạn luôn là việc bàn cùng bác sĩ.