Ăn uống
Nhịp bữa ăn
6 bài
Ăn ở ngoài thì đổi những gì?Thứ đổi đi khi ăn ở ngoài không phải bản thân món ăn, mà là chỗ hiểu biết về nó ít lại. Độ lớn của khẩu phần, lượng dầu chiên và phần đường trong nước sốt đều nằm lại trong bếp, không hiện lên đĩa. Lại còn chuyện thời điểm: khi nào đĩa được bưng ra bàn thì giờ đây nằm trong tay người khác. · 2 phútĐọc tiếp
Ẩn số thứ nhất là khẩu phần. Các cơ sở kinh doanh xem việc chất đầy đĩa là dấu hiệu của sự hào phóng, nên cỡ phần cũng lớn hơn ở nhà. Trong một nghiên cứu rà soát thực đơn của các chuỗi nhà hàng lớn, gần một phần tư các món khai vị và món ăn kèm tự nó đã bằng cỡ một bữa chính. Cùng một tên món ăn kèm có thể nhỏ ở chuỗi này và lớn gấp mấy lần ở chuỗi kia.
Ẩn số thứ hai là những thứ đã vào đĩa mà không nhìn thấy. Dầu chiên, đường trong nước sốt và lớp bóng trên mặt bột đứng đầu danh sách ấy. Món nấu ở nhà thì bày hết mọi thứ ngay bên nồi, còn thực đơn thì cho qua bằng một dòng. Dù vậy các tính từ trên thực đơn vẫn cho manh mối. Những chữ như béo kem, caramel hóa và giòn rụm phần lớn chỉ tới dầu hoặc đường. Mật độ năng lượng và lượng muối của bữa ăn ngoài có xu hướng cao hơn bữa nấu ở nhà.
Thứ ba là sai số của việc ước lượng. Ngay ở nhà, việc ước lượng cũng đi lang thang trong một dải rộng; về chuyện này đã có một bài riêng kể chi tiết. Thứ làm dải ấy rộng ra trên đĩa nhà hàng là chuyện không ai đứng bên cái nồi. Khi thực đơn có ghi giá trị dinh dưỡng thì năng lượng của bữa được chọn đi xuống một chút. Các bài tổng quan xem tác động này là có thật nhưng khiêm tốn, và xem bằng chứng của nó là độ tin cậy thấp.
Vài thói quen làm giảm sự bất định thì gần như bàn nào cũng dùng được:
- Xem thực đơn trước khi ra khỏi nhà. Quyết định được đưa ra trước khi đói.
- Đọc cách chế biến: nướng vỉ, nướng lò và luộc không phải cùng một đĩa với chiên.
- Xin để nước sốt riêng. Lượng nằm lại trong tay bạn, không nằm trên đĩa.
- Chia phần, hoặc để riêng một nửa ra ngay từ đầu.
- Xem đồ uống là một quyết định riêng; đồ uống ngọt tới mà không phải nhai.
- Nhớ rằng việc để giỏ bánh mì trên bàn cũng là một lựa chọn.
Thời điểm là phần bị bỏ qua nhiều nhất. Sau khi đơn đã vào bếp thì không ai biết đĩa sẽ ra bàn lúc nào. Khoảng trống ấy quan trọng với người dùng insulin trước bữa, vì thuốc đã bắt đầu có tác dụng mà đĩa vẫn còn trên bếp. Trên đường đi xa thì chính sự bất định ấy nhân lên với máy bay, với tàu và với chặng nghỉ trên đường cao tốc. Một thứ nhỏ chuẩn bị sẵn trong túi vì thế là một biện pháp, chứ không phải một bữa ăn.
Lại còn độ dài của bàn tiệc. Ở một bàn ăn kéo dài mấy giờ, các đĩa được bưng ra nối nhau. Đi làm khách thì cũng vậy, và ở đó người khách không định được độ dài của bữa. Thứ trông như một bữa thật ra thành mấy bữa; ở nhà thì chuyện này hiếm khi xảy ra.
Ăn ở ngoài không phải một ngoại lệ, nó là phần thường của đời sống. Thứ duy nhất đổi đi là một phần thông tin nằm lại trong bếp. Quyết định với thông tin thiếu cũng là một kỹ năng học được. Không biết hết nội dung của một bữa thì cũng không buộc phải để bữa ấy ra ngoài sổ. Một ước lượng thô vẫn hơn là không có gì.
Đồ uống nào làm tăng đường huyết?Những đồ uống chở carbohydrate là nhóm tạo ra đợt tăng nhanh nhất; lý do nằm ở trạng thái của chúng không kém gì ở thành phần. Nước ngọt có ga, các loại nước ép và đồ uống nóng đã pha ngọt đều thuộc nhóm này. Sữa cũng tới cùng carbohydrate của nó. Còn nước lọc và trà, cà phê không đường thì không chở gánh ấy. · 2 phútĐọc tiếp
Chỗ tạo ra khoảng chênh là dạ dày. Một miếng đặc trước hết phải vỡ ra, rồi mới thành từng mảnh nhỏ đi xuống ruột, và việc đó cần khá nhiều thời gian. Chất lỏng thì bỏ qua trình tự ấy. Phần lớn nó rời dạ dày trước chất đặc, và carbohydrate tới ruột sớm thì được hấp thu sớm. Một nghiên cứu đo tốc độ rỗng dạ dày thấy tốc độ ấy liên quan chặt với đỉnh của đợt tăng.
Khoảng chênh thứ hai nằm ở việc nhai. Nhai rồi nuốt một miếng thì mất mấy phút, còn uống cùng lượng năng lượng ấy thì mất mấy giây. Việc nhai vừa kéo dài thời gian vừa châm ngòi các tín hiệu no. Người ta cho rằng năng lượng tới từ chất lỏng không tạo ra cùng tín hiệu ấy với cùng sức mạnh. Khoảng chênh giữa hai bên dồn lại ở chỗ cùng lượng carbohydrate ấy đi vào trong bao lâu.
| Đồ uống | Carbohydrate | Ghi chú |
|---|---|---|
| Nước lọc, nước khoáng không đường | Không | Đồ uống được các hướng dẫn toàn cầu khuyên trước nhất |
| Trà không đường, cà phê không đường | Không | Thêm đường hay sữa vào thì bức tranh đổi |
| Nước ngọt có ga | Cao | Tới mà không phải nhai và không có chất xơ |
| Nước ép trái cây | Có | Loại không thêm đường cũng ở nhóm này |
| Sữa, đồ uống có sữa | Có | Lactose vốn có sẵn; chất béo và đạm đổi tốc độ |
| Đồ uống từ thực vật | Tùy nhãn | Loại không đường và loại đã pha ngọt khác nhau |
Một đồ uống đi một mình, hay đi cùng cái đĩa? Câu hỏi này đổi kết cục. Khi một đồ uống ngọt được dùng một mình, đường cong trước hết dựng đứng lên, rồi xuống rất nhanh. Khi chính đồ uống ấy đi kèm một bữa đặc, đáp ứng chung thấp hơn tổng của hai đáp ứng riêng lẻ, và đoạn xuống sau đó thì mềm hơn. Đáp ứng với cùng một bữa cũng khác nhau giữa người này và người kia. Cái ly như nhau, đường cong thì khác.
Caffeine là một mục riêng. Các nghiên cứu ngắn hạn dùng caffeine tinh khiết thấy độ nhạy insulin ở người khỏe mạnh giảm đi. Cà phê xét trọn vẹn thì không cho cùng kết quả ấy; dữ liệu quan sát dài hạn về cà phê chỉ theo một hướng khác.
Đồ uống đặt lên bàn buổi sáng làm tổng của ngày lớn lên một cách lặng lẽ. Cái ly to cầm trên xe buýt, chai nước bên mép bàn làm việc và ly thứ hai trên ghế sofa buổi tối đều nằm ngoài sổ, vì chúng không hiện trên đĩa. Một ly giữa giờ nghỉ trưa cũng vào chính cái tổng ấy.
Các hướng dẫn toàn cầu xem nước lọc là đồ uống hàng đầu, và khuyên đặt nước hoặc những lựa chọn không chở năng lượng vào chỗ của đồ uống ngọt. Nhìn cái nhãn trên một chai cũng làm được việc như nhìn thứ trên đĩa. Theo dõi chất lỏng phần lớn còn dễ hơn, vì đồ uống tới theo những đơn vị đếm được.
Vì sao đường buổi sáng cứng đầu hơn?Người ta đã biết con số buổi sáng đi ra từ thế cân bằng ban đêm giữa gan và insulin nền. Thứ đổi đi trong hiện tượng bình minh là gần sáng có thêm mấy nội tiết tố đè lên một phía của thế cân bằng ấy. Người ta không ăn gì, giấc ngủ vẫn tiếp, mà giá trị thì đi lên. · 2 phútĐọc tiếp
Ban đêm, cơ thể không nằm không. Nó vẫn làm việc. Gần sáng, việc tiết hormone tăng trưởng, cortisol và những nội tiết tố kiểu adrenaline tăng lên. Tất cả đều chở tới gan cùng một thông điệp và kéo lượng glucose thả ra ban đêm đi lên. Ở người không có tiểu đường, đợt ra ấy không nằm không có câu trả lời, thế cân bằng không đổ. Ở người tiểu đường, câu trả lời hoặc tới muộn hoặc không đủ. Về kho ấy của gan thì đã có một bài riêng. Chuyện ở đây là cái giờ giấc.
Kết quả là cái mức cứng đầu mà người ta thấy khi tỉnh dậy; trong y văn nó tên là hiện tượng bình minh. Hơn ba mươi năm nghiên cứu đã cho thấy bức tranh này ở cả tuýp 1 lẫn tuýp 2. Phép đo không trèo lên vào lúc nửa đêm, mà vào những giờ ngay trước khi thức. Đây là chuyện xảy ra trong lúc người ta ngủ và không ăn gì. Trong một nghiên cứu theo dõi hơn hai trăm người, bức tranh ra tương tự nhau bất kể nhóm thuốc đang dùng.
Chuyện thứ hai là thời điểm. Giờ nào trong ngày. Bữa sáng ngồi lên một đường cong vốn đã đang trèo lên; điểm khởi đầu của nó khác với buổi tối. Những nội tiết tố ấy còn làm cùn tác dụng của insulin, và cùng một lượng nội tiết tố thì làm được ít việc hơn. Vì vậy carbohydrate trong đĩa buổi sáng không lặp lại y hệt đường cong buổi tối. Ở người này thì khoảng chênh rõ, ở người kia thì gần như không có. Trong những năm dậy thì, hormone tăng trưởng tiết ra dồi dào hơn và chính bức tranh ấy rõ hơn; ở đó thang đo không phải đêm, mà là năm.
Một cuộc tranh luận cũ cũng vào cuộc. Theo quan điểm gọi là hiệu ứng Somogyi, một giá trị thấp trong đêm sẽ kết thúc bằng một đợt tăng phản ứng vào gần sáng. Các công trình về sau phần lớn không xác nhận chuỗi ấy. Còn hiện tượng bình minh thì xuất hiện cả khi không có cú tụt ban đêm. Việc theo dõi glucose liên tục phân biệt được hai thứ, vì nó cho thấy trọn đường cong suốt đêm.
| Đường cong suốt đêm | Bức tranh buổi sáng | Tên gọi |
|---|---|---|
| Đi bằng, gần sáng thì trèo lên | Cao lúc thức dậy | Hiện tượng bình minh |
| Ban đêm tụt xuống, rồi tăng | Cao lúc thức dậy | Tranh luận về đợt tăng phản ứng |
| Bắt đầu đã cao và cứ thế | Cao lúc thức dậy | Gánh mang từ buổi tối |
Bức tranh lúc thức dậy tuy giống nhau, nhưng câu chuyện đằng sau nó có thể tới theo ba đường khác nhau. Thứ tạo ra lằn ranh không phải một con số vào lúc thức, mà là cả đêm. Vì vậy một phép đo lấy ngay khi vừa rời giường phần lớn còn thiếu. Ngay cùng một giờ ở cùng một người cũng có thể cư xử khác nhau qua các ngày. Nếp ngủ, buổi đi bộ chiều tối và thời gian tác dụng của thuốc đều xen vào bức tranh. Nếu các giá trị cứng đầu suốt nhiều ngày thì bác sĩ là nơi hỏi.
Thứ tự món ăn có đổi đường huyết?Chuyện chất đạm và chất béo làm chậm dạ dày thì đã biết từ lâu, còn câu hỏi ở đây hẹp hơn thế. Khi trong cùng một đĩa không có gì đổi ngoài thứ tự ăn, đường cong sau bữa lại mang một hình dáng khác. Tổng carbohydrate vẫn giữ nguyên; thứ đổi đi chỉ là nhịp nó tới máu. · 2 phútĐọc tiếp
Giữ nguyên nội dung một bữa và chỉ đổi thứ tự ăn. Việc ấy làm được. Các nhà nghiên cứu đã thử đúng điều đó: cùng một đĩa, cùng một lượng, hai thứ tự khác nhau. Một lần thì carbohydrate đi trước, lần kia thì rau và chất đạm ra trước. Ở nếp thứ hai, đỉnh của đường cong lùi lại và đợt tăng trải ra một khoảng thời gian dài hơn. Khoảng chênh sinh ra không phải từ lượng ăn, mà từ thứ tự ăn.
Nguyên do không phải phép màu. Vấn đề là thứ tự làm gì với lối ra của dạ dày. Khi rau nhiều xơ và chất đạm vào dạ dày trước, carbohydrate tới ruột non với một nhịp đều hơn; về tác dụng làm chậm ấy của chất xơ thì đã có một bài riêng. Phần thuộc riêng về thứ tự thì nằm ở phía nội tiết tố. Các nội tiết tố tiết ra từ ruột cùng với bữa ăn nắn nên đáp ứng insulin. Đáp ứng ấy đổi theo thứ tự; insulin đo sau cùng một bữa vẫn thấp hơn khi carbohydrate được để lại sau cùng.
| Thứ tự | Điều quan sát được |
|---|---|
| Carbohydrate trước | Đỉnh sau bữa cao hơn và tới sớm hơn |
| Rau và chất đạm trước | Đỉnh thấp hơn, đợt tăng thoai thoải hơn |
| Trộn lẫn tất cả | Ở đâu đó giữa hai đầu |
Quan sát này không tới từ một nghiên cứu đơn lẻ. Có nhiều hơn thế. Các thử nghiệm thiết kế chéo với người lớn có tiểu đường tuýp 2 đều chỉ về cùng một hướng. Trong thiết kế chéo, chính một người sống qua cả hai nếp, và phép so sánh nằm gọn bên trong người ấy. Trong một nghiên cứu dùng theo dõi glucose liên tục, thời gian trong khoảng mục tiêu dài ra, và dao động trong ngày đi trong một dải hẹp hơn. Trong một thử nghiệm thí điểm với người tham gia có tiền tiểu đường, cân nặng giảm đi; còn thay đổi nhỏ ở HbA1c thì không đủ mạnh để xem là chắc chắn.
Bức tranh cũng có giới hạn. Các thử nghiệm chạy với những nhóm nhỏ vài chục người, và phần lớn trong điều kiện bếp có kiểm soát. Còn ở người dùng insulin trước bữa thì có ra cùng kết quả hay không, điều đó chưa rõ.
Thứ tự, độ lớn khẩu phần và loại carbohydrate đứng cạnh nhau. Cùng một bức tranh. Trên thực tế thì mọi chuyện giản dị. Vấn đề là cái nĩa đầu tiên đi về đâu trên đĩa. Khi một đĩa salad, một bát canh rau hay một món đạm như quả trứng ra bàn trước, thứ tự tự nó dựng lên. Ở nhà, lúc dọn đĩa thì việc này phần lớn không đòi công sức riêng. Ở một bàn ăn dài ngày cuối tuần, nếp ấy tự nó hiện ra. Còn trong giờ nghỉ trưa vội vã ở chỗ làm thì đôi khi không dựng nổi. Ăn hết cùng món ấy theo một thứ tự khác thì không lấy bớt của bữa ăn thứ gì.
Bỏ bữa ảnh hưởng đường huyết thế nào?Bỏ một bữa không phải lúc nào cũng kéo đường huyết xuống, vì gan vào cuộc và thả glucose trong kho của nó vào máu. Ở bữa sau, cả cơn thèm lẫn tốc độ đều tăng, và cùng cái đĩa ấy trông lớn hơn. Đi cùng insulin hay vài loại thuốc thì bức tranh đổi hẳn. Vấn đề không chỉ là phần carbohydrate chưa ăn. · 2 phútĐọc tiếp
Cơ thể lấp khoảng trống giữa hai bữa. Bằng chính nguồn của nó. Khi đường huyết bắt đầu lui, tuyến tụy tiết glucagon, và nội tiết tố ấy mang tin tới gan. Gan bẻ glycogen trong kho và đưa glucose ra máu. Đói càng kéo dài thì một con đường thứ hai vào cuộc, và gan bắt đầu làm glucose mới từ những nguyên liệu khác nó có. Suốt ngày đầu, cơ quan giữ đường huyết đứng vững chính là gan.
Vì thế người bỏ bữa có khi không thấy cái cảnh mình chờ. Giá trị có lúc đứng nguyên, có lúc trượt lên. Nếu insulin đang có mặt không đủ để cân lại phần gan thả ra thì khoảng chênh lớn hơn. Ở tuýp 2, thế cân bằng ấy vốn đã yếu.
Có những nghiên cứu cho thấy tác động chuyển được sang các bữa sau. Trong một thử nghiệm nhỏ với người lớn có tiểu đường tuýp 2, chính những người ấy sống qua hai ngày khác nhau. Một ngày có bữa sáng, ngày kia thì không. Vào cái ngày để trống bữa ấy, các đợt tăng sau bữa trưa và sau bữa tối đều cao hơn. Đáp ứng insulin tới muộn, còn nội tiết tố ruột GLP-1 thì ra ít hơn. Trong thử nghiệm, dấu vết của khoảng trống ấy kéo tới tận bàn ăn buổi tối.
Khoảng trống đổi không chỉ nội tiết tố. Nó đổi cả hành vi. Sau một cơn đói dài, đồ lên đĩa nhiều hơn và bữa ăn kết thúc nhanh hơn. Vì sao một đĩa ăn vội làm đường cong dựng đứng thì đã có một bài riêng bàn tới. Khoảng chênh ở đây là chuyện cùng một tác động đè lên hai bữa trong cùng một ngày.
| Chuyện gì đang xảy ra | Khi bữa ăn bị bỏ |
|---|---|
| Gan | Vẫn tiếp tục thả glucose từ kho glycogen |
| Bữa kế tiếp | Khẩu phần lớn lên, tốc độ ăn tăng |
| Đỉnh của đợt tăng | Ở bữa sau thì sắc hơn |
| Insulin hoặc thuốc gây tiết | Bữa không tới thì sinh ra khả năng giá trị trượt xuống |
| Cuối ngày | Ít bữa không có nghĩa là tổng gánh ít |
Thứ định đoạt bức tranh trước hết là cách điều trị. Với người dùng insulin trước bữa, bữa ăn và liều làm việc buộc vào nhau; insulin đã vào cuộc mà carbohydrate thì không tới. Một ngày như thế thì khả năng giá trị trượt xuống tăng lên. Tình hình tương tự cũng hiện ra với vài nhóm thuốc viên kích thích tuyến tụy. Còn ở người chỉ theo dõi bằng ăn uống, hoặc bằng những thuốc không mang tác dụng ấy, thì diễn tiến êm hơn nhiều.
Bỏ bữa phần lớn không phải quyết định có kế hoạch. Một chuyến xe buýt tới muộn, một cuộc họp kéo dài, một giờ nghỉ trưa kết thúc ngay tại bàn làm việc; ngày cứ thế đi mà không có bữa. Một thứ nhỏ chờ sẵn trong tủ lạnh và một cái dạ dày trống tới tận trưa sinh ra hai bức tranh rất khác nhau. Còn ở người dọn đĩa cho một người khác thì sự bất định bắt đầu sớm hơn. Lúc đặt đĩa xuống thì chưa biết bao nhiêu phần của món ăn sẽ được ăn hết. Khi trong đầu có ý đổi nếp bữa ăn thì bác sĩ là nơi hỏi.
Có bắt buộc phải ăn bữa phụ không?Bữa phụ không bắt buộc với mọi người; việc có cần hay không thì cách điều trị đang dùng sẽ định ra. Đã có thời ba bữa chính và ba bữa phụ gần như là một đơn thuốc chuẩn, và ai cũng được đưa cùng một bảng giờ. Hôm nay thì số bữa được dựng theo từng người, vì công cụ điều trị cũng khác nhau theo từng người. · 2 phútĐọc tiếp
Quy tắc cũ không sinh ra vô cớ. Nhiều năm trước, các loại insulin phổ biến có tác dụng dài và gợn sóng. Khi không bữa nào rơi vào những giờ tác dụng lên đỉnh thì ngày hôm ấy đi lệch về một hướng không ngờ. Vì sao khoảng trống ấy sinh ra rắc rối thì một bài riêng về việc bỏ bữa giải thích. Bữa phụ khi đó là một biện pháp sẵn có để lấp khoảng trống. Công cụ đã đổi, nên lý do của biện pháp cũng đổi.
Bức tranh hôm nay thì phân hóa hơn nhiều. Bữa phụ có ích hay không tùy người ấy đang dùng cách điều trị nào. Lằn ranh dựng theo cách điều trị thì không phải chuyện của trang này, mà là chuyện của bài “Đếm carbohydrate là gì?”. Xét từ phía bữa phụ thì chỉ có một câu hỏi. Bữa này đang nằm trong kế hoạch, hay đang được cộng thêm lên trên ngày? Cùng hai lát bánh mì ấy, trong kế hoạch này là một mục đã tính trước, trong kế hoạch kia là một gánh thừa ra.
Thêm một bữa nghĩa là thêm carbohydrate. Có những nghiên cứu so sánh chuyện ăn mấy lần trong ngày, và không phải tất cả đều nhìn về một hướng. Trong một nghiên cứu nhỏ đem so nhóm chia cùng lượng năng lượng thành hai bữa lớn với nhóm chia thành sáu bữa nhỏ, ở nếp ít bữa thì mức giảm cân rõ hơn. Còn các bài tổng quan quan sát thì không tìm thấy mối liên hệ nhất quán giữa tần suất ăn và cân nặng cơ thể. Hai kết quả này không bác nhau; cả hai đều chỉ ra rằng tổng của ngày định đoạt nhiều hơn số bữa. Vấn đề không phải con số, mà là cái tổng.
| Tình huống | Bữa phụ làm gì ở đó |
|---|---|
| Người chỉnh liều theo bữa | Nó chở carbohydrate của chính nó; kế hoạch được dựng có tính tới điều đó |
| Liều insulin cố định hoặc thuốc gây tiết insulin | Tác dụng không buộc vào bữa; khoảng trống dài ở đây mới quan trọng |
| Người theo dõi bằng ăn uống và vận động | Phần lớn là không cần; nó làm tổng của ngày lớn lên |
| Đi xa, làm ca, bữa ăn tới muộn | Một biện pháp thực dụng lấp khoảng trống không lường trước |
Thói quen và nhu cầu cũng hay bị lẫn. Nếu nắm hạt trong ngăn bàn làm việc là vì cơn đói xế chiều thì câu trả lời là một đằng, còn nếu vì giá trị có xu hướng đi xuống giữa hai bữa thì câu trả lời là một nẻo. Cái thứ nhất là một lựa chọn, cái thứ hai là một dấu hiệu liên quan tới điều trị. Hai thứ không phải một. Khi người quyết định và người ăn là hai người khác nhau thì lằn ranh ấy càng khó đọc; cả hai chỉ hiện ra tới mức nhìn được từ bên ngoài.
Đồ ăn vặt đóng gói trên kệ siêu thị làm lằn ranh ấy mờ hẳn đi. Một gói ghi khẩu phần nhỏ lại hết veo trong một lần ngồi trên ghế sofa buổi tối. Bữa phụ cũng là một bữa, và nó không nhỏ đi chỉ vì cái tên của nó nhỏ.
Câu trả lời ngắn là thế này: không bắt buộc, và thứ nó phụ thuộc vào chính là cách điều trị. Nó phụ thuộc vào điều gì thì ê kíp biết kế hoạch điều trị sẽ làm rõ.
Bài này chỉ mang tính thông tin; nó không phải chẩn đoán, không phải chỉ định điều trị hay liều dùng. Quyết định về việc điều trị của bạn luôn là việc bàn cùng bác sĩ.